Saturday, July 28, 2012
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm
PNO - Năm 1864, anh hùng Trương Định bị tên chó săn Huỳnh Tấn phục kích giết chết. Cuộc kháng chiến hào hùng và oanh liệt nhất ở đất Nam kỳ đã bị dập tắt. Để giới thiệu “chiến lợi phẩm văn hóa” với các nước phương Tây, Grabriel Aubaret đã dịch tác phẩm Lục Vân Tiên ra tiếng Pháp và viết lời giới thiệu, có đoạn: “Truyện thơ Lục Vân Tiên phổ biến trong dân gian đến mức là ở Nam Kỳ không một người đánh cá hay người lái đò nào không hát một vài câu thơ ấy khi họ chèo thuyền”.
Qua lời giới thiệu này, có thể thấy tác phẩm Lục Vân Tiên lúc ấy nổi tiếng và ảnh hưởng sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân Nam kỳ và người viết ra tác phẩm ấy, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã được nhân dân yêu kính như thế nào.
Đến nay đã có nhiều chương trình tưởng niệm nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Theo sự hiểu biết của chúng tôi, trước tiên có lẽ là chương trình do Hội Khuyến học Nam kỳ tổ chức vào ngày chủ nhật 27.6.1943 với nhiều hoạt động phong phú. Chẳng hạn, ngoài phần nghi lễ còn có biểu diễn tuồng Nguyệt Nga cống Hồ tại Nhà hát lớn Sài Gòn do nhà văn Hồ Biểu Chánh soạn, nghệ sĩ Nam Phỉ thủ vai chính…
Nhờ có tập Kỷ yếu lễ kỷ niệm Nguyễn Đình Chiểu in năm 1971 tại miền Nam, chúng ta được biết, chương trình kỷ niệm lần này quy mô lớn hơn nhiều - “nhằm làm sống lại hình ảnh hào hùng của một văn tài lỗi lạc, một nhà đại đức đáng kính, một bậc chí sĩ đầy khí phách” kéo dài từ ngày 11.7.1971 đến ngày 19.7.1971.
Mở đầu là cuộc viếng mộ cụ Nguyễn Đình Chiểu tại ba Tri (Bến Tre) - trong đoàn có nhà văn Sơn Nam, nhà thơ Mộng Tuyết, Kiên Giang, nghệ sĩ Năm Châu v.v…; ngày 16.7.1971, GS Nguyễn Duy Cần thuyết trình Con người toàn diện Nguyễn Đình Chiểu tại Đại học Văn khoa Sài Gòn; tại Trường Quốc gia âm nhạc và kịch nghệ Sài Gòn diễn tuồng hát bội Lục vân Tiên do nhà nghiên cứu Đỗ Văn Rỡ soạn v.v…
Được biết chương trình này được thực hiện ở miền Nam là nhằm kỷ niệm 150 năm ngày sinh của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, tính theo tuổi ta.
Còn tại miền Bắc lại tổ chức vào tháng 6.1972. Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nêu rõ: “Thông qua kỷ niệm lần này, cần động viên học tập và phát huy tinh thần yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, củng cố lòng tin sắt đá vào tiền đồ của Tổ quốc, nâng cao ý chí chiến đấu, bảo vệ và tăng cường miền Bắc xã hội chủ nghĩa, ra sức chi viện tiền tuyến lớn đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.
Dịp này Viện Văn học có xuất bản tập sách Nguyễn Đình Chiểu - tấm gương yêu nước và lao động nghệ thuật, dày 670 trang.
Nhân dịp cả nước đang hướng đến Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, Người yêu sách giới thiệu cùng bạn đọc hai ấn phẩm độc đáo và có giá trị học thuật về nhân vật lừng lẫy mà GS Trần Văn Giàu đã nhận định:
“Cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu là một cuộc đời điển hình (sĩ phu yêu nước) trong một hoàn cảnh điển hình (đất nước bị xâm lăng). Con người Nguyễn Đình Chiểu không phải sống tùy thời theo lục bình trôi theo dòng nước khi lớn khi ròng, mà từ đầu chí cuối đứng sừng sững như cây dừa, rễ ăn sâu, thân đứng thẳng, đương đầu bất khuất với thời cuộc mỗi lúc mỗi thêm bi đát, giữ được đến cuối cùng cái chính khí bản nhiên, cái ý chí quang phục, cái nhân cách Việt Nam. Vừa bằng cuộc đời, vừa bằng văn thơ, Nguyễn Đình Chiểu để lại cho chúng ta một đạo làm người nhất quán yêu nước thương dân, trọng nghĩa khinh tài, trong sạch bất khuất, được đồng bào quý mến, còn kẻ thù thì kính nể”.
Ở nhân cách nhà thơ Đồ Chiểu, bao giờ chúng ta vẫn nhớ đến lời tâm niệm mà ông đã sống trọn vẹn với tuyên ngôn:
Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm,
Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.
K.B
Trung Quốc dùng thủ đoạn gì để xâm chiếm Hoàng Sa của Việt Nam ?
[
Trung Quốc chia rẽ VN để VN suy yếu sức mạnh dân tộc. Và chiếm Hoàng Sa, thời kỳ 1950s, thời kỳ chiến tranh Nam Bắc VN.
Hôm nay, họ chiếm VN bằng nhiều cách kinh nghiệm hơn.
Tận dụng ưu thế của Đảng CSVN do họ đẻ ra.
Tiếp tục dùng thế mạnh hiếp yếu.
Toàn dân Việt nam phải chủ động:
- Đoàn kết sức mạnh dân tộc. Không thể là "Đại Đoàn Kết" theo mô hình của Đảng CSVN để phục vụ riêng cho quyền lợi của Đảng CSVN. Mà phải Đoàn Kết Sức Mạnh Dân Tộc thật sự.
- Đấu tranh chủ lực, chủ động tình hình thay vì thụ động. Nghĩa là làm bạn, liên minh với tất cả các nước trên thế giới về mọi mặt, Nghĩa là phải quyết tâm Hội Nhập, Phát Triển, Sinh Tồn Dân Tộc cho đến cùng. Không thể thụ động, chờ thời do TQ làm chủ lực phân tán lực lượng Dân tộc Việt nam.
]
Trung Quốc chia rẽ VN để VN suy yếu sức mạnh dân tộc. Và chiếm Hoàng Sa, thời kỳ 1950s, thời kỳ chiến tranh Nam Bắc VN.
Hôm nay, họ chiếm VN bằng nhiều cách kinh nghiệm hơn.
Tận dụng ưu thế của Đảng CSVN do họ đẻ ra.
Tiếp tục dùng thế mạnh hiếp yếu.
Toàn dân Việt nam phải chủ động:
- Đoàn kết sức mạnh dân tộc. Không thể là "Đại Đoàn Kết" theo mô hình của Đảng CSVN để phục vụ riêng cho quyền lợi của Đảng CSVN. Mà phải Đoàn Kết Sức Mạnh Dân Tộc thật sự.
- Đấu tranh chủ lực, chủ động tình hình thay vì thụ động. Nghĩa là làm bạn, liên minh với tất cả các nước trên thế giới về mọi mặt, Nghĩa là phải quyết tâm Hội Nhập, Phát Triển, Sinh Tồn Dân Tộc cho đến cùng. Không thể thụ động, chờ thời do TQ làm chủ lực phân tán lực lượng Dân tộc Việt nam.
]
Cuốn “Kỷ yếu Hoàng Sa” do UBND huyện Hoàng Sa (Đà Nẵng) và NXB Thông tin – Truyền thông xuất bản tháng 1/2012 tiếp tục chỉ rõ các thủ đoạn của Trung Quốc xâm chiếm nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam sau khi đã chiếm nhóm đảo phía Đông vào năm 1956.
ĐỔI TRẮNG THAY ĐEN, Ỷ MẠNH HIẾP YẾU
Trong bài “Quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa” đăng trong “Kỷ yếu Hoàng Sa”, “TS Trần Công Trục (nguyên Trưởng Ban Biên giới của Chính phủ) nêu rõ: “Quân Pháp rút khỏi Việt Nam sau khi thua trận Điện Biên Phủ và trong thời kỳ Việt Nam chia đôi theo quy định của Hiệp định Genève khiến Trung Quốc, Đài Loan… tranh chấp chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quyền quản lý, bảo vệ của Chính quyền Việt Nam Cộng hoà (VNCH, giai đoạn 1956 – 1975)”.
Tàu cá có trang bị vũ trang của Trung Quốc khiêu khích chiến hạm của Hải quân VNCH tại đảo Cam Tuyền thuộc quần đảo Hoàng Sa ngày 15/1/1974 - Ảnh: HC (chụp lại từ cuốn "Kỷ yếu Hoàng Sa"
Âm mưu cho lính đóng giả ngư dân để chiếm đảo bị đập tan
Theo đó, việc thua trận ở Điện Biên Phủ và ký Hiệp định Genève 20/7/1954 buộc quân Pháp phải rút lui khỏi Việt Nam tháng 4/1956 và để khoảng trống bố phòng ở Biển Đông khiến các nước trong khu vực, trong đó có CHND Trung Hoa, Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan) cho là cơ hội tốt để đưa lực lượng quân sự ra chiếm đóng trái phép một số đảo ở Hoàng Sa cũng như Trường Sa của Việt Nam. Tuy nhiên, VNCH đã tích cực tổ chức các hoạt động nhằm quản lý và bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam:
Ngày 22/8/1956, song song với việc đưa lực lượng hải quân ra quần đảo Trường Sa để chiếm giữ, bảo vệ quần đảo này trước những hoạt động xâm lấn của các lực lượng nói trên, VNCH đã tổ chức một số hoạt động tại quần đảo Hoàng Sa như: Tổ chức đoàn nghiên cứu thuỷ văn do Saurin dẫn đầu; cho phép kỹ nghệ gia Lê Văn Cang tiến hành khai thác phốt phát ở Hoàng Sa. Từ năm 1957, Bộ Tư lệnh Hải quân VNCH đã cử một đại đội thuỷ quân lục chiến ra quản lý, bảo vệ quần đảo Hoàng Sa thay thế cho quân của đại đội 42 thuộc tiểu đoàn 142.
Và cũng với thủ đoạn lén lút như 3 năm trước đó, “ngày 21/2/1959, CHND Trung Hoa cho một số lính đóng giả ngư dân bí mật đổ bộ lên các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Hoà nhằm đánh chiếm nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa. Tuy nhiên lực lượng quân đội VNCH đã phá tan được âm mưu này. 82 “ngư dân” và 5 thuyền đánh cá vũ trang của Trung Quốc đã bị bắt giữ và bị áp giải về giam tại Đà Nẵng, sau đó trả cho Trung Quốc” – TS Trần Công Trục viết.
Tuy nhiên Trung Quốc vẫn không từ bỏ âm mưu chiếm nốt phần còn lại của quần đảo Hoàng Sa. Nhân chứng Trần Hoà (sinh năm 1954, hiện ở tổ 5, khối phố Long Xuyên 1, thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam) từng được Bộ chỉ huy Tiểu khu Quảng Nam (quân lực VNCH) cử ra ra Hoàng Sa chăm sóc sức khoẻ, khám và điều trị bệnh cho sĩ quan, binh lính trung đội Hoàng Sa và các nhân viên khí tượng trên đảo vào tháng 10/1973 kể lại trong cuốn “Kỷ yếu Hoàng Sa”:
“Từ khoảng tháng 10/1973, tàu cá Trung Quốc vào đánh bắt gần quần đảo Hoàng Sa ngày càng nhiều. Khi gặp tàu tuần tra của chính quyền Sài Gòn thì những tàu này bỏ chạy ra hải phận quốc tế, khi tàu tuần tra đi rồi họ lại buông neo thả lưới quanh đảo. “Anh em trên đảo chỉ lo nhiệm vụ giữ đảo, còn đẩy đuổi ngư dân nước ngoài xâm phạm lãnh hải thì không có phương tiện nên đành chịu”.
Báo chí Sài Gòn năm 1974 đưa tin Trung Quốc xâm chiếm trái phép Hoàng Sa - Ảnh: chụp lại từ cuốn "Kỷ yếu Hoàng Sa"
Trận chiến xâm lược tháng 1/1974
Ông Trần Hoà cùng những người trên đảo Hoàng Sa hoàn toàn không ngờ đó là kế sách của phía Trung Quốc. Để rồi đến ngày 19/1/1974, hàng đoàn tàu đánh cá được trang bị vũ trang đã hợp sức cùng tàu chiến của hải quân Trung Quốc có hành động khiêu khích, tiến đến gần Hoàng Sa rồi bất ngờ đổ quân đánh chiếm trái phép quần đảo của Việt Nam.
TS Trần Công Trục thuật lại trong bài “Quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa”: Ngày 15/1/1974, sau khi tuyên bố lên án cái gọi là “chính quyền VNCH “xâm lấn đất đai của Trung Quốc”, “tất cả các quần đảo Nam Sa, Tây Sa, Đông Sa và Trung Sa là lãnh thổ của Trung Quốc”…, CHND Trung Hoa đã đưa quân đổ bộ và cắm cờ Trung Quốc lên các đảo Hữu Nhật, Quang Ảnh, Quang Hoà và Duy Mộng thuộc nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa.
Ngày 16/1/1974, Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt của Hải quân VNCH đưa phái đoàn quân lực ra Hoàng Sa và phát hiện 2 chiến hạm số 402 và 407 của Hải quân Trung Quốc đang ở gần đảo Hữu Nhật, xác nhận quân Trung Quốc đã chiếm đóng, cắm cờ trên các đảo Quang Hoà, Duy Mộng, Quang Ảnh… Lập tức, Ngoại trưởng Vương Văn Bắc họp báo tố cáo Bắc Kinh đã huy động tàu chiến vi phạm vùng biển quần đảo Hoàng Sa và đưa binh lính đổ bộ xâm chiếm các đảo Hữu Nhật, Quang Ảnh, Quang Hoà, Duy Mộng thuộc nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa.
“Từ ngày 17/1 đến ngày 20/1/1974, trận hải chiến giữa lực lượng Hải quân VNCH và lực lượng Hải, Lục, Không quân, Quân giải phóng Nhân dân Trung Hoa xảy ra trong tình thế khó khăn cho quân lực VNCH. Mặc dù đã chiến đấu quả cảm, nhiều binh sĩ đã anh dũng hy sinh, Quân lực VNCH đã không thể giữ được các đảo thuộc nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa” – TS Trần Công Trục viết.
Điều này cũng được nhiều nhân chứng từng sống, chiến đấu ở Hoàng Sa trong giai đoạn đó chứng thực rõ thêm. Nhân chứng Lê Lan (sinh năm 1952, hiện ở tổ 13, phường Sơn Phong, khối phố 3, Hội An, Quảng Nam) là y tá quân y thuộc Tiểu khu Quảng Nam, năm 1973 cũng được cử ra Hoàng Sa 3 tháng để phụ trách khám sức khoẻ, cung cấp thuốc cho binh sĩ đồn trú trên đảo. Khi chỉ còn khoảng 1 tuần nữa ông trở về đất liền thì quần đảo bất ngờ bị phía Trung Quốc sử dụng vũ lực đánh chiếm trái phép.
“Lúc ấy có cả đoàn giám sát thiết lập phi trường trên đảo bị kẹt lại, trong đó có 1 người Mỹ. Mặc dù chúng tôi đã phân chia nhiệm vụ chiến đấu giữ lấy đảo vì đảo thuộc chủ quyền của chúng ta nhưng bọn chúng đông quá cùng tàu chiến nhiều nên cuối cùng chúng cũng chiếm được Hoàng Sa.
Tôi cùng 32 người khác bị đưa về tạm giam ở đảo Hải Nam 3 tháng, khi đó có thêm 21 người bị hải quân Trung Quốc bắt ở đảo khác. Sau đó chúng đưa tôi về trại thu dung tù binh ở Quảng Châu (Trung Quốc) khoảng 1 tháng rồi giao cho Tổ chức Hồng Thập tự Quốc tế của Anh trao trả cho chính quyền Sài Gòn” – ông Lê Lan kể lại trong cuốn “Kỷ yếu Hoàng Sa”.
Ông Trần Văn Hảo (sinh năm 1938, hiện ở tổ 14 phường Thạc Gián, quận Thanh Khê, Đà Nẵng), từng là trung sĩ của trung đội Hoàng Sa cũng là một nhân chứng trong trận hải chiến đó. Ông kể, khi xảy ra vụ tấn công trái phép ngày 19/1/1974, trung đội của ông đã đối đầu quyết liệt với lực lượng hải quân và tàu đánh cá có vũ trang của Trung Quốc. Nhưng phía Trung Quốc cậy tàu to súng lớn trong khi lực lượng trên đảo quá mỏng nên ông Hảo cùng một số anh em trong đội quân bảo vệ Hoàng Sa đã bị bắt.
Cùng cảnh ngộ ấy là ông Nguyễn Văn Cúc (sinh năm 1952, hiện ở tổ 11, phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà, Đà Nẵng). Năm 1973, ông liên tiếp ba lần được cử ra khảo sát, sửa chữa và xây dựng ở Hoàng Sa. Lần thứ 3 ông ra đảo vào tháng 12/1973 để lấy mẫu đất, khảo sát xây dựng sân bay. Khi ông đang trên đường trở về đất liền thì bị tàu chiến Trung Quốc bắt giữ trong cuộc xâm chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam…
Ông kể, đang lênh đênh trên biển thì tàu của ông gặp tàu chiến Trung Quốc. Sau một ngày giằng co, họ áp sát buộc tàu của ông quay lại đảo. Mọi người trên tàu bàng hoàng khi trực tiếp chứng kiến Hoàng Sa bị chiếm, đau đớn, xót xa khi thấy mảnh đất của Việt Nam rơi vào tay kẻ khác. Sau một ngày bị bắt giữ trên đảo, hải quân Trung Quốc chở ông về đảo Hải Nam; rồi đưa lên tàu lớn về giam ở Quảng Châu cả tháng trời trước khi trao trả cho Hồng Thập tự Anh tại Hồng Kông.
Trích Tuyên bố 3 điểm của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoa miền Nam Việt Nam ngày 26/4/1974 tại Hội nghị Hiệp thương La Cellesaint Clou - Ảnh: chụp lại từ cuốn "Kỷ yếu Hoàng Sa"
Việt Nam yêu cầu Hội đồng Bảo an LHQ can thiệp
Ngay khi xảy ra các trận hải chiến tháng 1/1974, Quan sát viên của VNCH tại Liên hiệp quốc (LHQ) đã chính thức yêu cầu Chủ tịch Hội đồng Bảo an LHQ xem xét hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa. Ngày 19/1/1974, Bộ Ngoại giao VNCH ra Tuyên bố kêu gọi các dân tộc yêu chuộng công lý và hoà bình lên án hành động xâm lược thô bạo của Trung Quốc, buộc Trung Quốc chấm dứt ngay hành động nguy hiểm đó.
Cũng trong thời gian này, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ra Tuyên bố nêu rõ lập trường của mình:
- Chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ là những vấn đề thiêng liêng đối với mỗi dân tộc.
- Vấn đề biên giới và lãnh thổ là vấn đề mà giữa các nước láng giềng thường có những tranh chấp do lịch sử để lại.
- Các nước liên quan cần xem xét vấn đề này trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hữu nghị là láng giềng tốt và phải giải quyết bằng thương lượng.
Ngày 21/1/1974, Chính quyền VNCH đã gửi Công hàm cho các thành viên ký kết Định ước Paris đề nghị các thành viên lên án và đòi nhà cầm quyền Trung Quốc không được xâm phạm lãnh thổ Việt Nam theo đúng nội dung Điều 1 và Điều 4 của Định ước này.
Ngày 30/3/1974, tại kỳ họp lần thứ 30 của Hội đồng Kinh tế Liên hiệp quốc về Châu Á và Viễn Đông (ECAPE) tại Colombo, phái đoàn VNCH đã tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam.
Ngày 2/7/1974, tại kỳ họp thứ 2 Hội nghị lần thứ 3 của Liên hiệp quốc về Luật Biển (UNCLOS III) diễn ra tại Caracas (20/6 – 29/8/1974), đại biểu của VNCH đã lên tiếng tố cáo Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực và khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là lãnh thổ Việt Nam, chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo này là không tranh chấp và không thể thương lượng.
Sinh viên Việt kiều ở Pháp biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa - Việt Nam (1974) - Ảnh: chụp lại từ cuốn "Kỷ yếu Hoàng Sa"
Trung Quốc nuốt lời cam kết
Theo tường thuật của TS Trần Công Trục, sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 24/9/1975, trong cuộc gặp đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Tổng Bí thư Lê Duẩn dẫn đầu, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã tuyên bố sau này hai bên sẽ bàn bạc vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa) và quần đảo Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Nam Sa).
Tuy nhiên như cả thế giới đều biết, từ đó đến nay Trung Quốc vẫn ngang nhiên nuốt lời cam kết của chính lãnh đạo của họ. Không những thế, Trung Quốc còn tiếp tục leo thang các hàng động vi phạm ngày càng trắng trợn chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa cũng như quần đảo Trường Sa và trên khu vực biển Đông.
Ngày 2/7/1976, Nhà nước CHXHCN Việt Nam được thành lập và hoàn toàn có nghĩa vụ, quyền hạn tiếp tục quản lý và bảo vệ chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 12/5/1977, Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam ra Tuyên bố về các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, trong đó đã khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam có các vùng biển và thềm lục địa riêng.
Tại phiên họp thứ 7 cuộc đàm phán về biên giới Việt – Trung (bắt đầu ngày 9/10/1977), Trưởng đoàn Việt Nam, ông Phan Hiền đã bác bỏ vu cáo của Trung Quốc đối với việc Hải quân Nhân dân Việt Nam đã tiếp quản các đảo thuộc quần đảo Trường Sa và tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ông Phan Hiền đề nghị với ông Hàn Niệm Long, Trưởng đoàn Trung Quốc, về việc đưa vấn đề hai quần đảo vào chương trình nghị sự nhưng phía Trung Quốc từ chối.
Ông Phạm Khôi (bên trái, nhân chứng từng sống và tham gia nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển - đảo Hoàng Sa giai đoạn 1969 - 1970) trao tặng Chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa Đặng Công Ngữ bức sơ phác về quần đảo Hoàng Sa do ông vẽ theo trí nhớ
Việt Nam bác bỏ sự xuyên tạc của Trung Quốc
Ngày 15/3/1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Bị Vong Lục về vấn đề biên giới Việt – Trung. Điểm 9 của Bị Vong Lục đã tố cáo Trung Quốc đánh chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào tháng 1/1974.
Ngày 7/8/1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam ra Tuyên bố về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bác bỏ sự xuyên tạc của Trung Quốc trong việc công bố một số tài liệu của Việt Nam liên quan đến các quần đảo này, khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo, nhắc lại lập trường của Việt Nam về việc giải quyết sự tranh chấp giữa hai nước bằng thương lượng hoà bình.
Ngày 28/9/1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Sách trắng: “Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, trong đó đã giới thiệu 19 tài liệu liên quan đến chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này.
Ngày 25/11/2011, trước các đại biểu Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá 13, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ra lời tuyên bố mang tính lịch sử về chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa hiện đang nằm dưới sự chiếm đóng bất hợp pháp của lực lượng vũ trang Trung Quốc:
“Việt Nam có đủ căn cứ pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Chúng ta làm chủ thật sự, ít nhất là từ thế kỷ XVII, khi hai quần đảo này chưa thuộc bất kỳ quốc gia nào. Chúng ta đã làm chủ trên thực tế và liên tục, hoà bình”. “Lập trường nhất quán của chúng ta là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta có đủ căn cứ lịch sử và pháp lý để khẳng định điều này. Nhưng chúng ta chủ trương đàm phán giải quyết đòi hỏi chủ quyền bằng biện pháp hoà bình. Chủ trương này phù hợp với Hiến chương Liên hiệp quốc, phù hợp với Công ước Luật Biển năm 1982″.
Theo (infonet)
Nga có thể thiết lập cơ sở bảo dưỡng tàu ở Cam Ranh
Việt Nam sẽ cho phép Nga thiết lập cơ sở bảo dưỡng tàu biển tại cảng Cam Ranh, tuyên bố này được đưa ra trong chuyến thăm của Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang tới Nga.
Cảng sẽ không phải là căn cứ quân sự của Nga, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trả lời Đài tiếng nói Liên bang Nga (VOR) trước cuộc gặp với Tổng thống Nga Valadimir Putin. Tuy nhiên, chủ tịch nước cho biết cảng Cam Ranh sẽ được sử dụng để giúp tăng cường hợp tác mọi mặt giữa hai nước.
Theo RIA Novosti dẫn lời chủ tịch nước cho biết, Hà Nội đang có kế hoạch nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ bảo trì cho bất cứ tàu nước ngoài cập cảng Cam Ranh, vốn là một căn cứ hải quân cũ của Liên Xô.
Nga hiện chỉ có một căn cứ quân sự nước ngoài duy nhất bên ngoài lãnh thổ Liên bang Xô Viết cũ ở Tartus, Syria. Nhưng các quan chức cho biết căn cứ chỉ không hơn một trạm tiếp nhiên liệu cho tàu chiến Nga. .
Trọng Giáp(VNE)
Thursday, July 26, 2012
Vinalines: thêm 7 người bị bắt
RFA-26-07-2012
Nguyên kế toán trưởng Tổng công ty Hàng hải Việt Nam ( Vinalines) và sáu bị can khác bị khởi tố và bắt giam vào ngày hôm qua.
Source photo:TL/kinhtesaigon
Ụ nổi N083M, một trong những dự án mua sắm dẫn đến những sai phạm của lãnh đạo Vinalines.
Mạng Lao Động loan tin cho biết cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an Việt Nam đã tống đạt quyết định khởi tố bị can đối với bà Nguyễn thị Bích Loan, nguyên kế toán trưởng Vinalines và sáu đối tượng khác là Lê Văn Dương- đăng kiểm viên, Trần Hải Sơn- nguyên giám đốc Cty TNHH sửa chữa tàu biển Vinalines, Mai Văn Khang- cán bộ Ban quản lý Dự án Vinalines và ba cán bộ hải quan Tân Phong, tỉnh Khánh Hòa.
Tội danh để khởi tố cả 7 người là ‘cố ý làm trái’ trong quá trình đầu tư mua ụ nổi N083M.
Thông tin nói cơ quan điều tra xác định là tính đến đầu tháng tư năm nay, các bị cán cố ý làm trái gây thiệt hại trên 100 tỷ đồng.
Tính đến nay, cơ quan điều tra đã khởi tố 13 bị cán liên quan đến vụ án Vinalines.
Hồi tháng rồi, tổng thanh tra chính phủ Việt Nam cho biết tổng số nợ của Vinalines là hơn 2 tỷ đô la. Vinalines từng chi khoảng 1 tỷ đô la để mua 70 chiếc tàu cũ về và chi tiếp nhiều khoản lớn để bảo trì, sửa chữa.
Vụ Vinalines xảy ra sau phiên xử những viên chức điều hành Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam – Vinashin, gần như phá sản hồi năm 2010 với một núi nợ hơn bốn tỷ đô la.
Hiện Interpol Quốc tế đang truy nã cựu chủ tịch Vinalines là ông Dương Chí Dũng, sau khi ông này bỏ trốn hồi tháng 5.
Các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước được chính quyền Việt Nam cho là xương sống của nền kinh tế. Khối này được phép kiểm soát đến hai phần ba nguồn vốn và tài sản của nền kinh tế và có nhiều mối quan hệ cùng các quan chức chính phủ và Đảng.
Hồi trong tháng Hà Nội công bố kế hoạch tái cấu trúc khu vực doanh nghiệp Nhà Nước cho đến khoảng năm 2015. Tuy nhiên giới chuyên gia vẫn nghi ngờ về biện pháp thực hiện kế hoạch đó.
Vụ hành hung 2 nhà báo VOV ở Hưng Yên: Tưởng nhà báo là... người dân (!?)
T.Dũng (NLĐ) - Chiều 26-7, đại tá Ngô Văn Phương, Trưởng Công an huyện Văn Giang - Hưng Yên, đã xác nhận ngoài 2 công an, 3 người còn lại tham gia đánh 2 nhà báo của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) Nguyễn Ngọc Năm và Hán Phi Long tại xã Xuân Quan, huyện Văn Giang trong khi 2 nhà báo này đang tác nghiệp về vụ cưỡng chế thu hồi đất dự án khu đô thị thương mại và du lịch Văn Giang (Ecopark) vào ngày 24-4 là người của Công ty TNHH V & T.
2 nhà báo VOV bị đánh trong buổi cưỡng chế ở Văn Giang. Ảnh cắt từ clip
Theo ông Phương, 3 người này là Nguyễn Xuân Biên, Lê Văn Băng và Cao Như Mác, có nhiệm vụ bảo vệ máy xúc, máy ủi của doanh nghiệp tại hiện trường vụ cưỡng chế thu hồi đất.
Đại tá Ngô Văn Phương cho rằng việc 3 người này tham gia vụ đánh 2 nhà báo VOV là do họ bức xúc, nóng nảy bởi nhiều chuyện và do nhầm tưởng nhà báo là người dân. Ông Phương cho biết Công an huyện Văn Giang đã xử phạt hành chính 3 người này do có hành vi gây rối trật tự công cộng, với mức phạt 1,5 triệu đồng/người.
Bộ mặt thật của những người lãnh đạo Trung Quốc trong quá trình dài quan hệ “môi răng” giữa Trung Quốc và Việt Nam
Nguyễn Trọng Vĩnh
Trước thái độ “kể công” đó của giới hữu trách Trung Quốc, tôi buộc phải viết bài này để vạch trần bộ mặt thật của những người lãnh đạo Trung Quốc.
I. Bành trướng, bá quyền ích kỷ nước lớn là tư tưởng xuyên suốt của những người lãnh đạo Trung Quốc
Tháng 9-1950, tại Hội nghị Quân ủy Trung ương, Chủ tịch Mao Trạch Đông nói: “Chúng ta phải chinh phục trái đất, đó là mục tiêu của chúng ta”.
Trong cuộc hội đàm với đại biểu Đảng Lao động Việt Nam ở Vũ Hán năm 1963, ông Mao nói : “Tôi sẽ làm Chủ tịch 500 triệu bần nông đưa quân xuống Đông Nam châu Á”.
Trong cuộc họp BCH TƯ Đảng Cộng sản Trung Quốc tháng 8-1965, Chủ tịch Mao Trạch Đông khẳng định: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam Á, bao gồm cả miền Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia và Singapo… một vùng như Đông Nam châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản… xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy…”.
Trong cuộc họp giữa 4 đảng cộng sản Việt Nam, Trung Quốc, Indonesia, Lào tại Quảng Đông tháng 4-1963, Thủ tướng Chu Ân Lai nói: “Nước chúng tôi lớn, nhưng không có đường ra, nên rất mong Đảng Lao động Việt Nam mở cho con đường xuống Đông Nam châu Á”.
II. Những phương án thu phục và khuất phục Việt Nam
1. Thu phục Việt Nam bằng tư tưởng Mao Trạch Đông
Muốn xuống Đông Nam Á, trước hết và tất yếu cần qua Việt Nam.
Ngay từ năm 1950, sau khi nước CHND Trung Hoa ra đời, những nhà lãnh đạo Trung Quốc đã cử cố vấn Trung Quốc sang và viện trợ cho Việt Nam vũ khí, xe vận tải giúp Việt Nam đánh Pháp. Đoàn cố vấn còn có nhiệm vụ truyên truyền tư tưởng Mao Trạch Đông. Họ đã đề nghị cho dạy tư tưởng Mao Trạch Đông trong trường đảng Việt Nam, lãnh đạo ta đã chấp nhận. Lúc chúng ta tiến hành cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức theo kinh nghiệm các vị cố vấn giới thiệu cho ta, ta phạm sai lầm nghiêm trọng: đấu tố tràn lan, quy kết sai lầm làm nhiều cán bộ bị bắt, nhiều người chết oan. Khi phát hiện, Hồ Chủ tịch phải đứng ra nhận trách nhiệm và xin lỗi đồng bào. Từ đó ta tỉnh ngộ không dạy tư tưởng Mao Trạch Đông và không làm theo kinh nghiệm Trung Quốc nữa.
Những người lãnh đạo thấy không chinh phục Việt Nam bằng tư tưởng Mao Trạch Đông được, họ chuyển sang dùng phương án khác.
2. Mạnh tay giúp xây dựng kinh tế để Việt Nam hàm ơn và phụ thuộc Trung Quốc
Từ 1955 đến 1963, lãnh đạo Trung Quốc giúp Việt Nam rất nhiều nhà máy, nhiều công trình: nhà máy cao su, xà phòng, thuốc lá (Cao Xà Lá); nhà máy bóng đèn phích nước; nhà máy sứ Hải Dương; nhà máy hóa chất Việt Trì; nhà máy dệt Minh Phương; nhà máy sản xuất mỳ chính (bằng đậu xanh); khu gang thép Thái Nguyên; nhà máy phân đạm Hà Bắc; công trình thủy điện Thác Bà, cầu Việt Trì, v.v. Trung Quốc giúp ta hàng loạt nhà máy còn có mục đích là Việt Nam sẽ phải phụ thuộc về nguyên liệu, phụ tùng, linh kiện.
Đến khi Mỹ hất cẳng Pháp gây chiến ở Việt Nam thì phần lớn các nhà máy mà Trung Quốc giúp bị ném bom tàn phá và một số xí nghiệp hoạt động không có hiệu quả thành ra việc giúp xây dựng kinh tế không còn mấy ý nghĩa. Vả lại từ cuối cuộc kháng chiến chống Pháp, ta đã không đồng ý với lập trường của những người lãnh đạo Trung Quốc, họ thấy rằng “phương án kinh tế” cũng không thu phục được Việt Nam theo họ nên họ lại chuẩn bị phương án khác.
3. Hình thành 2 gọng kìm hòng uy hiếp và khuất phục Việt Nam
Ở phía Bắc, Trung Quốc mở những con đường từ nội địa ra sát biên giới các tỉnh Việt Nam, chuẩn bị sẵn sàng cho việc tiến quân.
Lãnh đạo Trung Quốc trang bị cho Pôn Pốt đủ mạnh để nắm nó làm gọng kìm phía Tây Nam Việt Nam. Được sự khuyến khích của lãnh đạo Trung Quốc, năm 1977, bọn Pôn Pốt xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Nam bộ Việt Nam, đánh phá, giết hại đồng bào ta. Không đừng được, quân ta tiến vào tiêu diệt Pôn Pốt, cứu dân Kmer khỏi họa diệt chủng thì Đặng Tiểu Bình huy động 60 vạn quân đánh ta, vừa để cứu tay sai Pôn Pốt vừa để làm lễ vật “làm ăn” với Mỹ, vừa để nói lên rằng giữa Trung Quốc và Việt Nam không còn chung ý thức hệ, không còn là “đồng chí”.
Việt Nam vẫn không khuất phục.
III. Giúp Việt Nam chống Pháp đồng thời hạn chế thắng lợi của Việt Nam làm Việt Nam suy yếu phải phụ thuộc Trung Quốc
Giúp Việt Nam kháng chiến chống Pháp, Trung Quốc cũng có động cơ vì lợi ích của họ. Nếu Việt Nam thắng, Trung Quốc sẽ có một khu đệm an toàn ở phía Nam giống như Triều Tiên ở phía Bắc. Không giúp chẳng may mà Việt Nam không đứng vững, Pháp thắng thì ở mặt Nam Trung Quốc sẽ là đế quốc Pháp, mà Pháp là một nước tham gia “liên quân 8 nước” đánh triều đình nhà Thanh (TQ), buộc nhà Thanh phải nhượng cho các nước phương Tây những “tô giới” ở Thượng Hải và những điều kiện thiệt thòi khác.
Sau chiến thắng vang dội Điện Biên Phủ của Việt Nam tiêu diệt tập đoàn cứ điểm mạnh nhất tưởng như “bất khả xâm phạm” của quân Pháp, Chính phủ và giới quân sự Pháp cực kỳ dao động. Lo ngại Quân đội nhân dân Việt Nam có thể thừa thắng tổng tấn công đồng bằng Bắc Bộ, ngày 18-5-1954, Thủ tướng Pháp Lanien (Joseph Laniel) đã cứ Tướng Êli (Paul Ély) sang Đông Dương truyền đạt chỉ thị cho Tướng Nava (Eugène Navarre), Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp: “Lúc này phải lấy mục tiêu chính, trên tất cả các cái khác là cứu đội quân viễn chinh”.
Trong tình hình đó, nếu lãnh đạo Trung Quốc thực tâm giúp Việt Nam thì rất có thể đã buộc Pháp phải rút toàn bộ quân Pháp khỏi Đông Dương.
Nhưng, ngược lại, những người lãnh đạo Trung Quốc đã phản bội nhân dân Việt Nam, đàm phán với Pháp trên lưng Việt Nam. Ngay từ ngày 24-8-1953, Thủ tướng Chu Ân Lai đã tuyên bố: “đình chiến ở Triều Tiên có thể dùng làm mẫu mực cho những xung đột khác” (ý nói đến cuộc chiến tranh Đông Dương, chỉ “đình chiến” thôi và hai miền song song tồn tại).
Từ ngày 8 tháng 5 đến 23 tháng 6-1954, Trưởng đoàn Pháp trong khi tránh tiếp xúc với Việt Nam đã đàm phán trực tiếp với Trưởng đoàn Trung Quốc 4 lần, đi tới thỏa thuận về những nét cơ bản về một hiệp định ngừng bắn ở Đông Dương.
Ngày 17-6-1954, Thủ tướng Chu Ân Lai gặp Trưởng đoàn đại biểu Pháp Biđô (Georges Bidault) đưa ra những nhân nhượng chính trị có tính chất cơ bản…
Ngày 23-6-1954, Thủ tướng Chu Ân Lai gặp Măngđet PhơRăngxơ (Mandès-France), Thủ tướng mới của Pháp đã đưa ra những nhượng bộ mới: “chia cắt Việt Nam, 2 miền Việt Nam cùng tồn tại hòa bình…”.
Một ngày sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký, ngày 22-7-1954, trong khi ăn cơm với Ngô Đình Luyện, em ruột Ngô Đình Diệm, Chu Ân Lại đã gợi ý “đặt công sứ quán của Sài Gòn ở Bắc Kinh”. Ngô Đình Diệm không đồng ý. Nhưng đây là bằng chứng lãnh đạo Trung Quốc công nhận chính quyền Ngô Đình Diệm và âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam.
Trong Hội nghị Giơ-ne-vơ, Việt Nam đòi định giới tuyến quân sự tạm thời là vĩ tuyến 13, tổ chức Tổng tuyển cử trong vòng 6 tháng để thống nhất nước nhà. Lúc đầu đoàn đại biểu Trung Quốc đề ra vĩ tuyến 16 làm giới tuyến 2 miền Việt Nam. Sau đó lại nói: “Vĩ tuyến 16 khó có thể thỏa thuận”, ép Việt Nam nhân nhượng: “Có những điều kiện không công bằng và hợp lý để Chính phủ Pháp có thể chấp nhận được… không nên làm phức tạp, lôi thôi… kéo dài đàm phán để cho Mỹ phá hoại”.
Trong tình thế Mỹ, Pháp Trung Quốc chung một lập trường, Trung Quốc ép buộc Việt Nam phải chấp nhận giải pháp: “Các nước tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào và nhân dân Campuchia, ngừng bắn trên toàn chiến trường Đông Dương, Pháp rút quân, vĩ tuyến 17 là vĩ tuyến quân sự tạm thời, chia Việt Nam làm 2 miền, tiến tới tổng tuyển cứ tự do trong cả nước sau 2 năm để thống nhất đất nước”.
Để ngăn cản ta tiếp tục chiến đấu, sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, tháng 7-1955, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình dọa: “dùng lực lượng vũ trang để thống nhất đất nước sẽ có 2 khả năng: một là thắng, và một khả năng nữa là mất cả miền Bắc”. Ngày 11-5-1956, ông Mao Trạch Đông nói với những đồng chí lãnh đạo ta: “tình trạng nước Việt Nam bị chia cắt không thể giải quyết được trong một thời gian ngắn mà cần phải trường kỳ… nếu 10 chưa được thì phải 100 năm”. Tháng 7-1957, Mao Trạch Đông lại nói: “Vấn đề là phải giữ biên giới hiện có, phải giữ vĩ tuyến 17… thời gian có lẽ dài đấy. Tôi mong thời gian dài thì sẽ tốt”. Những người lãnh đạo Trung Quốc nhiều lần nhấn mạnh với Việt Nam là: “chỉ có thể dùng phương châm thích hợp là trường kỳ mai phục, tích trữ lực lượng, chờ đợi thời cơ”.
Rõ ràng là những người lãnh đạo Trung Quốc không muốn cho Việt Nam thống nhất để mạnh lên, hãm Việt Nam trong tình trạng yếu kém để dễ khống chế. Một nửa Việt Nam là khu đệm an toàn phía Nam cho Trung Quốc yên ổn làm ăn là được.
IV. Nhân dân Việt Nam quyết tâm chống Mỹ để thống nhất Tổ quốc, Trung quốc giúp Việt Nam và dùng Việt Nam làm con bài để làm ăn với Mỹ
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, chính quyền Ngô Đình Diệm do Mỹ dựng lên ra sức phá hoại Hiệp định, lê máy chém đi khắp nơi giết hại những người cộng sản và những người dân yêu nước, nhưng giới lãnh đạo Trung Quốc vẫn ngăn cản nhân dân Việt Nam đẩy mạnh vũ trang. Tháng 5-1960, hội đàm với phía Việt Nam họ nói như sau: “Không nên nói đấu tranh chính trị hay đấu tranh vũ trang là chính… không phải là cướp chính quyền ngay mà cuộc đấu tranh vẫn là trường kỳ, dù Diệm có đổ cũng không thể thống nhất được…”. Mặc họ cản, bức xúc quá, nhân dân miền Nam vẫn đồng khởi, phát triển chiến tranh du kích, miền Bắc chi viện đồng bào ruột thịt của mình, không ai cản được.
Khi Mỹ đưa quân vào miền Nam, ném bom miền Bắc, lãnh đạo Trung Quốc buộc phải giúp Việt Nam đánh Mỹ.
Vì sao Trung Quốc giúp Việt Nam đánh Mỹ? Có 3 lý do:
Một là: đề phòng phải gặp lại tình hình năm 1950, khi quân Bắc Triều bị quân Mỹ - Hàn dồn sát đến sông Áp Lục, bom đã rơi vào đất Trung Quốc, Trung Quốc đã phải đem 50 vạn quân “kháng Mỹ viện Triều”, tổn thất nặng nề mới lập lại được vĩ tuyến 38 phân chia 2 miền Nam Bắc Triều Tiên…
Chính vì thế mà tháng 1-1965, qua nhà báo Mỹ Ét-ga-xnâu (Edgar Snow), Mao Trạch Đông nhắn Washington: “Quân đội Trung Quốc sẽ không vượt biên giới của mình để đánh nhau” và trong cuộc đàm phán Trung Mỹ cấp Đại sứ tại Vac-sa-va , phía Trung Quốc làm cho Mỹ hiểu rõ câu nói của Mao Trạch Đông: “Người không đụng đến ta thì ta không đụng đến người”. Nghĩa là mặc Mỹ đánh nhau ở miền Nam Việt Nam, Trung Quốc không muốn lại đánh nhau với Mỹ.
Hai là: Lãnh đạo Trung Quốc bấy giờ đương muốn giương cao ngọn cờ lãnh đạo phong trào cộng sản thế giới mà không giúp Việt Nam là nước đã thắng trận Điện Biên Phủ lẫy lừng, làm sụp đổ hệ thống thuộc địa trên thế giới, thì sẽ mất uy tín.
Ba là: cạnh tranh với Liên xô trong việc tranh thủ Việt Nam. Trong khi Liên xô giúp Việt Nam xe tăng, máy bay tên lửa, v.v. mà Trung Quốc không giúp thì sợ Việt Nam ngả theo Liên Xô.
Năm 1963, Tổng bí thư Đặng Tiểu Bình thông báo với lãnh đạo Việt Nam ý kiến của lãnh đạo Trung Quốc “sẽ viện trợ cho Việt Nam 1 tỷ nhân dân tệ nếu Việt Nam khước từ mọi viện trợ của Liên xô”.
Sau cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 của chúng ta vào gần khắp các thành phố ở miền Nam, cả vào Sứ quán Mỹ, Bộ tổng tham mưu chính quyền miền Nam và Mỹ đều dao động, lộ rõ ý muốn chấm dứt ném bom để ngồi vào đàm phán. Chúng ta chủ trương “vừa đánh vừa đàm” để kéo Mỹ xuống thang, thì lãnh đạo Trung Quốc ngăn cản, họ cho rằng: “Lúc này Việt Nam chấp nhận đàm phán chưa phải là thời cơ và trên tư thế cao, đã nhân nhượng một cách vội vã”.
Ngày 9-10-1968, lãnh đạo Trung Quốc gặp Thứ trưởng Ngoại thương Việt Nam ở Bắc Kinh yêu cầu báo cáo với lãnh đạo Việt Nam rằng: “sự thỏa hiệp của Việt Nam với Mỹ là một thất bại lớn… nên để cho Mỹ bắn phá trở lại khắp miền Bắc, để Mỹ phân tán mục tiêu oanh tạc, chia sẻ bớt khó khăn cho miền Nam”. Viên tướng M. Taylo (Maxwell Taylor) gọi là “quyết tâm của những người lãnh đạo Trung Quốc đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”.
Trong mấy năm liền cho đến 1972, lãnh đạo Trung Quốc đề nghị giúp vận chuyển hàng phục vụ chiến trường từ miền Bắc đến miền Nam Việt Nam, Lào, Campuchia trên con đường mòn Hồ Chí Minh, hứa cung cấp đủ xe, người lái và khoảng 20 vạn quân để bảo đảm công việc này. Ý đồ thâm hiểm của họ là nắm mạch máu chiến tranh của 3 nước Đông Dương để điều khiển cuộc chiến tùy ý họ, để buôn bán với Mỹ và chuẩn bị bàn đạp xuống Đông Nam Á. Tất nhiên lãnh đạo Việt Nam không thể chấp nhận.
Năm 1969, Nichxơn lên làm Tổng thống Mỹ, ông ta cảm thấy bế tắc trong cuộc chiến tranh, muốn rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam mà vẫn giữ được chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Ông ta nghĩ đến con bài Bắc Kinh; Trung Quốc cũng nhìn thấy thế yếu của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam nên thời kỳ 1969-1973, Trung Quốc và Mỹ tăng cường tiếp xúc bắt tay công khai với nhau, không chỉ bàn bạc các vấn đề tay đôi, mà cả các vấn đề thuộc chủ quyền của Việt Nam và các nước Đông Dương.
Tháng 7 và tháng 10 năm 1971, Kitxingiơ (H. Kissinger) đặc phái viên của Nichxơn sang Bắc Kinh và ít lâu sau Nichxơn đích thân sang thăm Trung Quốc. Họ thỏa thuận với nhau các vấn đề trên lưng nhân dân Việt Nam.
Ngày 1-3-1972, Kitxingiơ nói với các nhà báo rằng: “Từ nay Tổng thống và tôi chỉ còn việc nhìn về Mascơva mà nghiền nát Việt Nam”.
Khi Trung Quốc thông báo cho ta: trong chuyến thăm Bắc Kinh của Nichxơn hai bên sẽ bàn cả vấn đề Việt Nam, lãnh đạo của chúng ta thẳng thắn nói: “Việt Nam là của chúng tôi, các đồng chí không được bàn với Mỹ về vấn đề Việt Nam, các đồng chí đã nhận sai lầm năm 1954, bây giờ không nên sai lầm một lần nữa”.
Cuối cùng bất chấp chiến dịch B52 ác liệt, bất chấp mọi mưu ma chước quỷ của những người lãnh đạo Bắc Kinh, Việt Nam anh dũng kiên cường, độc lập tự chủ vẫn thực hiện được lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “ đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, thống nhất Tổ quốc.
Sau khi bình thường hóa quan hệ trở lại năm 1990, những người Trung Quốc giương chiêu bài đạo đức giả, lừa phỉnh “16 chữ và 4 tốt” nhưng rất hung hăng leo thang gây hấn ở biển Đông, cắt cáp 2 tàu khảo sát của chúng ta, liên tiếp bắn giết ngư dân ta, bắt tàu cá của ta để đòi tiền chuộc, luôn to mồm tuyên bố một cách vô lý chủ quyền gần hết biển Đông và các quần đảo của Việt Nam và các nước Đông Nam Á, nhiều lần dọa đánh Việt Nam và Philippines… những việc này đang làm nóng dư luận quốc tế và sục sôi tâm huyết của toàn dân Việt Nam trong thời gian gần đây thì mọi người đều đã biết rõ.
Chú thích:
Một số trích dẫn lời lãnh đạo Trung Quốc là từ các nguồn sau:
(1) Từ những sách báo của nhà báo thân Trung Quốc Edgar Snow.
(2) Từ hồi ký của Kitsinger , cựu ngoại trưởng Mỹ.
(3) Từ những cuộc gặp gỡ giữa lãnh đạo Trung Quốc và lãnh đạo Việt Nam.
N.T.V.
Tác giả trực tiếp gửi cho BVN
Saturday, July 21, 2012
Vài lời với lãnh đạo công an Sài Gòn trước lời kêu gọi tổng biểu tình ngày 22/7/2012
[
Khi những người yêu nước viết hàng trăm, ngàn lá thư kiến nghị gửi những người lãnh đạo đất nước, mà không có lãnh đạo nào nghe nữa. Thì họ biết rõ, Việt nam không còn lãnh đạo đất nước.
Một đất nước vô lãnh đạo như hiện tại tất sẽ có những người này tự lãnh đạo lấy họ và tự quyết định cho vận mạng của đất nước họ. Thay vì tốn sức viết thư, kiến nghị yêu nước mà bị bắt, bị phản động. Họ phải tự quyết lấy chính sách quốc gia cho mình.
Năm xưa, ở Trung Hoa, Vua Tần Thủy Hoàng chết, loạn hoạn quan. Những người yêu nước cũng viết thư kiến nghị lên vua con. Mà có ai nghe. Thì cũng chỉ có Hạn Vũ, Lưu Bang từ nông dân, mà kết thành nhóm để tự quyết lấy vận mạng của nước họ.
Bao nhiêu thời đại rồi, Người đẻ ra chế độ thì anh dũng, nhưng đến cuối đời triều đại ấy, thì cũng toàn là bọn tham quan, hậu duệ đầy rẫy tình trạng bán nước hại dân. Ở Việt Nam, đã bao đời Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn cũng thế thôi. Rồi tới triều đại do Bác Hồ đẻ ra, cái hào quan ông ta đẻ ra chế độ hôm nay, nhưng rồi thì cũng đến kết đoạn mà thôi. Rồi thế hệ đời khác phải mạnh dạng mà cứu lấy vận mạng của nước Việt nam. Bắt đầu, lúc nào cũng là khó cả.
Vạn Sự Khởi Đầu Nan.
]
Nguyễn Chí Đức - Đối với một người có lý trí tối thiểu, lòng tự trọng khiêm tốn, bất kì ai dù có hâm mộ cuồng nhiệt Hồ Chí Minh cỡ nào cũng nên đồng ý với tôi rằng: tên tuổi cụ Hồ không nên và không thể được đặt cho bất kì một tỉnh lỵ nào trên lãnh thổ Việt Nam...Nếu Việt Nam mất biển, mất đảo thì chính công an, quân đội CSVN sẽ tự rệu rã, làm loạn xã hội dẫn đến đảo chính chứ không phải nhân dân, không phải là các Hội-Đoàn-Đảng không được ĐCSVN và Hiến Pháp nước CHXHCNVN thừa nhận. Gần đây những thuật ngữ như “diễn biến hòa bình“, “thế lực thù địch” chỉ là tuyên truyền láo, nhằm dọa ma những người yếu bóng vía mà thôi...
*
Nhân lời kêu gọi Tổng biểu tình trên toàn quốc của blog danoan2012, trong đó có đoạn:
“Chúng tôi, những người điều hành trang này kêu gọi đồng bào hãy xuống đường tổng biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược trên toàn quốc!
Thời gian: 9h sáng chủ nhật ngày 22/7/2012
Địa điểm:
- Hà Nội: Trước cửa Nhà Hát Lớn
- Sài Gòn: Công viên 30/4
- Đà Nẵng: hồ phun nước góc đường Quang Trung – Ông Ích Khiêm – Trần Cao Vân
- Huế: vườn tượng quốc tế bên sông Hương
- Vinh: quảng trường Hồ Chí Minh"
Tôi xin chia sẻ một vài suy nghĩ dành cho lãnh đạo công an Sài Gòn nếu như họ cắt cử cấp dưới vào các blog điểm tin, lề dân để nghe ngóng, nắm bắt tình hình:
Thực ra đúng văn bản hình thức thì phải gọi là Công An thành phố Hồ Chí Minh mới phải lẽ. Nhưng quả thật đứng ở góc độ một người yêu nước thuần túy và có lý trí, tôi thấy từ cổ chí kim của dân tộc Việt Nam, chưa từng có một anh hùng dân tộc, một nhà tư tưởng nào được đặt tên cho một thành phố lớn thứ nhì cả nước về mặt chính trị, đứng thứ nhất về kinh tế như cụ Hồ Chí Minh. Thậm chí ngay cả truyền thuyết về vua Hùng Vương (Quốc Tổ) cũng chỉ khiêm tốn được đặt tên đường, tên trường học làng nhàng rải rác khắp nơi mà thôi.
Câu chuyện “cái gì của Xêda hãy trả lại cho Xêda” về địa danh Sài Gòn-Gia Định chỉ là vấn đề thời gian. Đối với một người có lý trí tối thiểu, lòng tự trọng khiêm tốn, bất kì ai dù có hâm mộ cuồng nhiệt Hồ Chí Minh cỡ nào cũng nên đồng ý với tôi rằng: tên tuổi cụ Hồ không nên và không thể được đặt cho bất kì một tỉnh lỵ nào trên lãnh thổ Việt Nam.
Nhưng tại sao tôi lại lôi cụ Hồ Chí Minh vào chuyện biểu tình yêu nước này?
Bởi vì cụ Hồ đã từng đề cập đến danh từ “đồng bào” trong nhiều bài viết, đã từng gây xúc động với câu nói “Tôi nói, đồng bào nghe rõ không?” trong ngày 2/9/1945 khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập, ra mắt chính phủ lâm thời của nước VNDCCH. Nhưng trong thực tế khái niệm “đồng bào” mà Hồ Chí Minh sử dụng chỉ có mục đích tuyên truyền. Bởi vì sau này những đồng bào nào mà không liên quan hoặc không giúp đỡ cho CS (người quốc gia) sẽ bị riềng tới nơi tới chốn, kể cả những đồng bào theo kháng chiến, ủng hộ Việt Minh cũng bị chia rẽ có hệ thống qua phân loại về giai cấp, tôn giáo, lý lịch nhằm gây mâu thuẫn giữa đồng bào với nhau.
Điều này khác hẳn với quan điểm vận động đoàn kết của chí sĩ Phan Bội Châu cũng thường dùng danh từ “đồng bào” với một sự thành thực qua việc cổ võ đoàn kết 10 hạng người, không phân biệt thành phần xuất thân, tôn giáo thậm chí cả những người Việt đi lính, làm công chức cho thực dân Pháp thì cụ Phan Bội Châu cũng nhắc đến trong các bài viết cổ động yêu nước nhằm thức tỉnh tinh thần dân tộc cho họ.
Sở dĩ tôi phải đề cập 2 vấn đề trên vì tôi được biết và cảm nhận công an Sài Gòn rất cứng rắn và khá thô bỉ ổi đối với những người đi biểu tình yêu nước. Trong khi thành phần những người đi biểu tình này rất đa dạng.
Tôi xin hỏi các Ông lãnh đạo vài câu như sau:
Nước Việt Nam có phải của riêng ĐCSVN không?
Dựa vào điều luật nào mà công an Sài Gòn trấn áp rất mạnh tay, vô cớ đối với những người đi biểu tình yêu nước?
ĐCSVN xuất xứ những anh tài, hào kiệt trong nhân dân mà ra hay từ trên trời rơi xuống?
Nước Việt Nam nếu không có Hồ Chí Minh thì có thoát được họa ngoại xâm hay không?
Cách mạng tháng 8/1945, thực tế ĐCSVN cướp chính quyền từ chính phủ Trần Trọng Kim (quốc hiệu Đế Quốc Việt Nam) hay ĐCSVN khai sáng ra nền độc lập cho nước Việt Nam mới?
Mấy câu hỏi về lịch sử này có thể gây xôn xao, làm khó chịu lãnh đạo công an Sài Gòn và một số độc giả bảo thủ là cựu quan chức/tướng lãnh/chiến binh CS, vậy tôi sẽ đề cập vấn đề cụ thể sát sườn hơn.
Nếu nước Việt Nam bị giặc Tàu chiếm trọn quần đảo Trường Sa thì ai sẽ bị thiệt hại nhiều nhất? Xin nhắc lại: thiệt hại nhiều nhất?
Có phải là những ngư dân đánh cá?
Xin thưa: Sai lầm. Thiệt hại nhiều nhất chính là Quân Đội & Công An Cộng Sản Việt Nam.
Nguồn thu to lớn từ dầu khí và những tài nguyên-khoáng sản khác, thuế má của nhân dân lao động chủ yếu để trả lương cho bộ máy chính quyền công kềnh, kém hiệu quả do ĐCSVN lãnh đạo trong đó có Quân đội & Công An. Bộ máy này giúp nước, bảo vệ dân thì ít hiệu quả mà hành dân, ngu dân, hút tiền bạc để tồn tại & chương phình ra thì nhiều.
Tôi cũng xin nói thêm một điều cực kì quan trọng: nếu Việt Nam mất biển, mất đảo thì chính công an, quân đội CSVN sẽ tự rệu rã, làm loạn xã hội dẫn đến đảo chính chứ không phải nhân dân, không phải là các Hội-Đoàn-Đảng không được ĐCSVN và Hiến Pháp nước CHXHCNVN thừa nhận. Gần đây những thuật ngữ như “diễn biến hòa bình“, “thế lực thù địch” chỉ là tuyên truyền láo, nhằm dọa ma những người yếu bóng vía mà thôi. Đó là sự thật! Tôi xin cam kết đó là sự thật!
Thật trớ trêu và cay đắng làm sao cho đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta!
Nhân dân Việt Nam có đi biểu tình cũng xuất phát từ tình cảm dân tộc, từ quyền lợi thuần túy về tinh thần, tâm tưởng vô hình về tài sản của Quốc gia do các tiền nhân khai phá và để lại. Còn lợi ích cụ thể chính là việc trả lương cho các cán bộ, chiến sỹ trong các lực lượng vũ trang, cho lãnh đạo hội họp-du hí-ăn nhậu, cho các kế hoạch ma (tham nhũng) nhằn đàn áp những người muốn cải cách chính trị, tìm cách giảm thiểu bất công trong xã hội…
Nếu lãnh đạo công an Sài Gòn quyết tâm đàn áp, khủng bố những người biểu tình yêu nước thì quả thật rất bất nhân, bất nghĩa và hết sức phản động. Lúc này giặc Tàu đã vào cửa ngõ biển Việt Nam rồi chứ không còn lớn tiếng nạt nộ, khiêu khích như những lần trước đây. Lúc này chúng ta cần đoàn kết thực lòng, yêu thương chân thành, bỏ qua những dị biệt giữa nhóm người này với người kia về mặt chính trị/lịch sử/tôn giáo trước một kẻ thù truyền kiếp đầy dã tâm và nham hiểm.
Tôi không muốn viết dài lê thê thêm nữa, tôi tin rằng lãnh đạo công an Sài Gòn thừa hiểu những gì tôi viết ở trên. Nếu các Ông nhất nhất cho rằng việc đàn áp, khủng bố người đi biểu tình yêu nước là đúng, là cần thiết thì chính các Ông mới là những người có tội với dân tộc Việt Nam. Không bao lâu nữa lịch sử sẽ phát xét chuyện này, cố nhiên những kẻ chịu trách nhiệm sau cùng và rốt ráo chính là những vị trong TW, BCT của ĐCSVN.
Những lúc thế này lãnh đạo công an Sài Gòn nói riêng, toàn quốc nói chung hãy để các cuộc biểu tình yêu nước diễn ra khắp nơi và thật sự đông đảo nhằm chuyển đến thông điệp cho chính quyền Bắc Kinh hiểu rằng ý chí của dân tộc Việt Nam không bao giờ bị khuất phục trước họa ngoại xâm. Không bao giờ!
Chúng ta cùng chờ diễn biến vào sáng chủ nhật ngày 22/7/2012 sẽ diễn ra như thế nào?
Nguyễn Chí Đức
Friday, July 20, 2012
Nguyễn Tấn Dũng không dễ bị hạ bệ
Những ngày gần đây có nhiều thông tin đồn đoán về sự hiệp đồng của Chủ Tịch Trương Tấn Sang và Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng trong việc hạ bệ Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng. Thực hư chuyện này là như thế nào? Có đúng là vì Ba Dũng quá tham nhũng mà nhóm lãnh đạo thượng tầng của Việt Nam sẵn sàng động thủ?
Trước khi đề cập đến chuyện hạ bệ ngài Thủ Tướng Việt Nam chúng ta hãy cùng dông dài về mấy nhân vật của chính quyền một chút.
Đầu tiên, phải nói đến cầu thủ bóng đá Vũ Minh Hiếu, cựu tiền vệ của đội Công An Hà Nội, cựu tuyển thủ của đội tuyển Việt Nam và cũng là Trung Úy của Lực Lượng Công An Nhân Dân Việt Nam. Vũ Minh Hiếu giải nghệ vào năm 2005 sau 16 năm theo nghiệp quần đùi áo số. Là một tiền vệ khá tài hoa cho nên dù chỉ như một con ốc nhỏ trong bộ máy nhưng Vũ Minh Hiếu cũng được coi là đã có cống hiến cho nhà nước. Thêm nữa cũng được đồng đội tin cậy và lãnh đạo thương cho nên sau khi giải nghệ anh đã được cấp trên sắp xếp về Đội Cảnh Sát Giao Thông số 2 của Công An Thành Phố Hà Nội. Một quyết định rất hợp tình hợp lý vì Vũ Minh Hiếu “đã quen dang nắng bao năm” nên tiếp tục dang nắng ngoài đường là đúng sở trường. Có nhiều khán giả khi thấy Vũ Minh Hiếu ngoài đường đã ngạc nhiên “Ông mà cũng ra đứng đường à?” là vì họ không hiểu hết hiện tình của Công An Nhân Dân Việt Nam và Lực Lượng Cảnh Sát Giao Thông trong bối cảnh như thượng tướng Thứ Trưởng Bộ Công An Lê Thế Tiệm từng băn khoăn “ngoài đường có gì ngoài nắng bụi và khói xe mà ai cũng xin cho con em được làm Cảnh Sát Giao Thông, được ra đứng đường?” Chúng ta không dám khẳng định rằng Vũ Minh Hiếu đã là Cảnh Sát Giao Thông thì tha hồ ăn hối lộ mà chúng ta luôn hy vọng anh sẽ giữ được mình trong sạch. Vì bây giờ Cảnh Sát Giao Thông có nhiều nhà lầu và nhiều xe hơi không phải là chuyện hiếm. Theo người quen của người viết tiết lộ có tay Cảnh Sát Giao Thông muốn xin lãnh đạo cho được đứng thêm 1 năm nữa tại Trạm Liên Chiểu trên Quốc Lộ 1 thuộc địa bàn thành phố Đà Nẵng mà phải chung đủ 500 triệu đồng. Mới nghe thì hết hồn nhưng tính nhẩm lại thì ra ngay! 500 triệu cho một năm tức là 41 triệu một tháng. Vậy một ngày mà cứ kiếm nhiều hơn 1 triệu 300 ngàn là có ăn. Con số này mà so với lượng xe khách, xe tải Bắc-Nam chạy nườm nượp trên quốc lộ 1 thì chỉ là con số lẻ. Xe nộp mãi lộ ít thì 100 ngàn nhiều thì không có giá, thật không biết cách nào đếm cho hết tiền! Vũ Minh Hiếu bây giờ không biết được phân công nhiệm vụ gì, nếu anh được châm chước lên cỡ lãnh đạo tép riu thôi là tự nhiên bổng lộc sẽ kéo tới chẳng cần tốn công gì nhiều. Còn nếu anh là sỹ quan thanh liêm và vẫn còn trong biên chế của tổ chống ùn tắc quận Ba Đình và Tây Hồ thì anh và đồng đội cũng vẫn có thể sống xông xênh vì Lực Lượng Cảnh Sát Giao Thông được hưởng bồi dưỡng tới 70% tiền phạt vi phạm giao thông trong toàn quốc. Điều này đã được Bộ Tài Chính quy định rõ ràng từ nhiều năm rồi. Công An Nhân Dân là lực lượng con cưng của nhân dân và chế độ nên tất nhiên được ưu ái hơn các thành phần khác.
Tiếp theo là một cán bộ cấp cao, ông Trần Xuân Bách.
Trần Xuân Bách là Ủy Viên Trung Ương Đảng từ năm 1982 sau đó vào Bộ Chính Trị trong Đại Hội Đảng 6 năm 1986. Trưởng thành từ cơ sở và kinh qua các chức vụ lãnh đạo của các địa phương Khu III như Ninh Bình, Nam Định… ông đã trở thành nhân vât thứ 10 trong Bộ Chính Trị và có thể được cơ cấu sẽ thay Tổng Bí Thư lúc đó là ông Nguyễn Văn Linh. Là Trưởng Ban Đối Ngoại Trung Ương và nghiên cứu về lý luận của Đảng Cộng Sản Việt Nam thời đó, tư tưởng cách tân của ông là cổ vũ đa nguyên trong Đảng và mở rộng dân chủ trong bối cảnh các nước Đông Âu cũng như Liên Xô cũ đã thay đổi.Thế nhưng từ một vị thế của một ngôi sao đang lên ông đã bị những đồng chí của mình hạ bệ vào năm 1990 vì những nhân vật bảo thủ của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lo sợ nguy cơ mất chế độ. Ông mất cả vị trí trong Bộ Chính Trị và Trung Ương Đảng, sau đó được ông Nguyễn Cơ Thạch kéo về Bộ Ngoại Giao nghiên cứu chơi chơi 2 năm. Sau khi ông Thạch bị thất sủng do bị Trung Quốc giật dây thì ông cũng nghỉ luôn. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã biến ông trong phút chốc từ một Tổng Bí Thư tương lai thành một kẻ trở cờ và sống cuộc đời thường dân vô danh. Năm 2006 ông chết trong lặng lẽ.
Hai người nữa là đương kim Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc và đương kim Bí Thư Thành phố Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh. Cả 2 ông đều từ Quảng Nam đi lên, một từ Quế Sơn một từ Hòa Vang. Trải qua các chức vụ nhỏ từ cấp huyện hai vị quan nhà nước này đã lên như diều và làm vua một cõi. Sau khi làm Bí Thư Quảng Nam trong thời kỳ tách tỉnh, ông Phúc lên tiếp Văn Phòng Chính Phủ và hiện là Ủy Viên Bộ Chính Trị, Phó Thủ Tướng nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Một bất ngờ cho những người Quảng Nam! Ông Thanh dừng lại ở vị trí Ủy Viên Trung Ương, Bí Thư thành phố Đà Nẵng. Gần đây có tin vỉa hè rằng ông sẽ làm Bí Thư thành phố Hà Nội. Nếu quả thực như vậy thì quá bất ngờ! Và cũng buồn cho Việt Nam, buồn cho người Hà Nội giỏi đấu đá quá mà triệt hết nhân tài để phải sử dụng một tay gian hùng như Bá Thanh!
Chúng ta thấy gì qua những nhân vật này của chế độ?
Thứ nhất, nếu anh trung thành anh sẽ được chế độ đãi ngộ.
Thứ hai, nếu anh bị coi là phản bội anh sẽ bị tiêu diệt không thương tiếc. Sự tồn vong của chế độ được đặt lên trên hết, trên cả quyền lợi của nhân dân.
Thứ ba, nếu anh trung thành mà lại khôn ngoan biết theo bè theo cánh anh có thể đạt được quyền lợi vô biên, chạm trần quyền lực. Còn nếu anh là một kỳ đà cản mũi đường đi của các đồng chí, anh không bao giờ có cơ hội lên cao.
Điều tiên quyết là anh phải được chiến hữu ủng hộ và lãnh đạo yêu thương cất nhắc. Trong một Đảng phái khép kín như Đảng Cộng Sản Việt Nam anh còn phải biết ẩn nhẫn chờ thời, biết đón chiều gió khéo léo che chắn mới mong hoạn lộ thênh thang.
Trở lại trường hợp của ông Nguyễn Xuân Phúc và ông Nguyễn Bá Thanh hẳn chúng ta còn nhớ cách đây mười mấy năm không ai biết anh chàng Nguyễn Xuân Phúc là ai cả. Nhưng lúc ấy Nguyễn Bá Thanh đã được thiên hạ nhắc tên rất nhiều. Làm vua một cõi tiền bạc cả hai không thiếu, thủ đoạn cũng có thừa nhưng sao Nguyễn Xuân Phúc có thể leo cao chót vót trong khi Nguyễn Bá Thanh vẫn dừng chân ở chức Trung Ương Ủy Viên? Câu trả lời là Bá Thanh chính kẻ gian hùng, thủ đoạn tàn khốc, đã xuống tay hạ độc thủ thiếu tướng công an Trần Văn Thanh quá tàn ác nên bị lãnh đạo kiềng mặt dè chừng.
Những kẻ ác chơi chung với nhau thói đời chẳng ai tin ai!
Trong khi đó Nguyễn Xuân Phúc thuần hơn, làm quan cộng sản không ai thiếu tiền để lót đường cũng như các thủ thuật chính trị nhưng Xuân Phúc biết nhường trên nhường dưới hơn Bá Thanh. Ông đã khôn ngoan, trọng thị và đón tiếp Nguyễn Tấn Dũng rất chu đáo mỗi khi vị này thị sát miền Trung lúc còn là phó cho Thủ Tướng Phan Văn Khải. Bởi vậy khi cần kẻ trợ lực lúc trở thành Thủ Tướng, Ba Dũng đã nghĩ ngay đến Nguyễn Xuân Phúc và nâng đỡ vị cựu Bí Thư Quảng Nam lên tới Ủy Viên Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam. Rõ ràng trong những kẻ cơ hội mà chọn thằng ít gian hùng vẫn hơn là thằng nhiều gian hùng.
Lan man về vài nhân vật của chế độ là vậy còn đương kim Thủ Tướng của chúng ta thì như thế nào?
Nguyễn Tấn Dũng xuất thân là quân nhân. Ông gia nhập Quân Đội Nhân Dân Việt Nam từ rất sớm, khi mới 12 tuổi, là thiếu sinh quân du kích. Trải đủ cấp bậc từ lính lác lên tới Thủ Tướng của một quốc gia trong một chế độ khép kín như Việt Nam rõ ràng chẳng hề đơn giản. Những nước cờ chồng chéo, những liên hệ dây mơ rễ má của những kẻ cơ hội có thể làm đau đầu những người tìm hiểu về bàn cờ chính trị Việt Nam thời hiện đại.
Nhiều người chê Nguyễn Tấn Dũng chỉ là y sỹ, là lính kiểng nhưng trong chiến trường thực tế thì y sỹ hay lính chiến đấu cũng đều cầm súng cùng nếm mùi gian khổ như nhau. Nguyễn Tấn Dũng đã trải đủ qua cuộc chiến gian nan và phục viên với cấp bậc thiếu tá năm 1981. Vào thời đó ít người để ý đến viên thiếu tá này nhưng nếu biết rằng sau đó 14 năm Nguyễn Tấn Dũng đã là Thứ Trưởng Bộ Nội Vụ tức là ngang chức Trung Tướng hẳn nhiều người sẽ ngộ ra rằng việc ông phục viên và đi học Trường Đảng cao cấp là một cơ cấu tính trước của các bậc đỡ đầu. Người đỡ đầu nặng ký nhất của ông chính là Đại Tướng Lê Đức Anh nguyên Tư Lệnh Quân Khu 9, Quân Khu 7 và một đàn em của vị tư lệnh này nữa là cựu Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu. Năm 1974 thượng tá Lê Khả Phiêu là chính ủy Quân Đoàn 2 nhưng quá mê gái để bị tai tiếng nên được các đàn anh Thanh Hóa cho lánh vào Quân Khu 9 trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam đã sắp hạ màn. Sự kết hợp giữa Lê Đức Anh và Lê Khả Phiêu đã gây một mối họa to lớn cho dân tộc Việt Nam sau này. Lê Đức Anh là cánh hẩu của Lê Đức Thọ từ năm 1979 khi Lê Đức Thọ được Bộ Chính Trị phân công làm Trưởng Ban Chính Trị Đặc Biệt phụ trách chiến trường Campuchia nên đã được bậc trưởng thượng này lựa chọn cho thành phần kế cận. Thời gian Nguyễn Tấn Dũng phục viên cũng chính là lúc Lê Đức Anh được Sáu Búa kéo lên Trung ương và trao vào tay ông chức Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng, một bàn đạp để nắm luôn chức Bộ Trưởng. Khi đó trong quân đội có nhiều sỹ quan kiên trung rất phản đối việc này vì tài năng của ông thua xa nhiều vị tướng khác như Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái… cho nên với một chàng thiếu tá trong thời bình như Ba Dũng việc ngoi lên thành tướng lĩnh cao cấp sẽ rất khó khăn và dễ bị soi. Bởi vậy Ba Dũng mới được sắp xếp chuyển qua bên chính quyền và những công tác của Ba Dũng tại Kiên Giang chỉ là nền tảng cho vị Thủ Tướng tương lai bay lên như hỏa tiễn tiếp đó. Năm 1982 Ba Dũng mới chỉ là Phó ban tổ chức cán bộ của Kiên Giang nhưng 4 năm sau đã là Bí Thư Tỉnh Ủy và có chân trong Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng. 9 năm sau nữa, trong Đại Hội 8 Ba Dũng đã là Ủy Viên Bộ Chính Trị phụ trách kinh tế cho các cụ và nằm trong Ban Thường Vụ 5 người, tức là thành phần cao cấp nhất gồm Tổng Bí Thư Đỗ Mười, Chủ Tịch Lê Đức Anh, Thủ Tướng Võ Văn Kiệt và Chủ Nhiệm Tổng Cục Chính Trị Lê Khả Phiêu. Cả nhân vật mới là Dũng và Phiêu được cơ cấu vào Thường Vụ nhằm nắm chắc chức Tổng Bí Thư và Phó Thủ Tướng thường Trực. Vị trí của Ba Dũng đến lúc này đã vững như bàn thạch vì được chung vai với các vị bô lão. Cũng như Lê Đức Anh, đối với Ba Dũng thì Đỗ Mười cũng rất ưu ái vì ông này cũng là đàn em ruột của Lê Đức Thọ. Còn Võ Văn Kiệt trong chiến tranh cũng là bạn chiến đấu với các bậc cha chú của Ba Dũng. Bởi vậy việc Ba Dũng chưa ra giành chức Thủ Tướng với Phan Văn Khải thời điểm năm 1997 là vì ông còn trẻ quá, mới chỉ có 48 tuổi. Nhưng với chức Phó Thủ Tướng thường trực trong tay thì ông có thể tự quyết được vận mệnh chính trị của mình. Và như chúng ta đã thấy sau khi Phan Văn Khải nghỉ không ai khác hơn Nguyễn Tấn Dũng điều hành chính phủ Việt Nam.
Hiện nay trong tầng lớp lãnh đạo thượng tầng, quyền lực của Ba Dũng là áp đảo. Đối với một người được cơ cấu để cố ý leo lên đến đỉnh cao như Ba Dũng thì mọi miếng võ chính trị đều được ông nắm chắc và từng dùng. Vào Đảng từ năm 18 tuổi trải qua 45 năm tôi luyện trong chế độ độc tài và hơn 30 năm lăn lộn trong chính trường có lẽ không ai qua được Ba Dũng về các thủ đoạn đấu đá. Và tất nhiên để ngoi lên tới chức Thủ Tướng ông đã ban phát chức vụ và bổng lộc cho không biết bao nhiêu chiến hữu trong phe đảng để tạo chân đứng vững chắc cho mình. Trong đảng bộ khối chính phủ Ba Dũng trấn áp quần hùng không chỉ với tư cách Thủ Tướng mà còn với tư cách Ủy viên Bộ Chính Trị kỳ cựu nhất, từ Đại Hội 8 trước Phùng Quang Thanh hai khóa và Trần Đại Quang, Nguyễn Xuân Phúc 3 khóa. Ba Dũng tự quyết tự tác thành lập các Tổng công ty, các Tập Đoàn ăn hại cũng như điều hành kinh tế quốc gia rất tùy hứng. Trong 2 nhiệm kỳ của ông tham nhũng đã băng hoại thành quốc nạn với các nhóm lợi ích được hình thành và tồn tại vững chắc trong mọi ngóc nghách xã hội Việt Nam trong khi mọi tiếng nói phản biện của các nhân sỹ trí thức đều bị ông dập tắt từ trong trứng nước. Bên ngoài Chính Phủ các chiến hữu của ông như Lê Hồng Anh, Nguyễn Sinh Hùng, Trương Hòa Bình… đang cài cắm khắp nơi.
Trong khi đó 2 đối thủ đồng chí của ông, người thì nắm chức vụ Chủ Tịch không thực quyền người thì dù là Tổng Bí Thư nhưng lại mải nghiên cứu lý luận kiêm lú lẫn trung ương không hề giỏi các thủ đoạn bằng Ba Dũng. Trong cuộc đua vào chức Tổng Bí Thư Đại Hội 11 vừa qua, Ba Dũng không toại nguyện là vì phải có trách nhiệm khắc phục hậu quả kinh tế lụn bại và sự đổ vỡ của Vinashin cũng như các Tổng Công Ty nhưng các đối thủ của Ba Dũng cũng không thể lên được. Các bên đã thỏa hiệp bằng ông bù nhìn Nguyễn Phú Trọng, một nhân vật bàn giấy đặc trưng. Tuy vào Bộ Chính Trị cũng từ ngay sau Đại Hội 8 nhưng đương kim Tổng Bí Thư suốt ngày nghiên cứu lý luận Mác Lênin và kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa chẳng để tâm gì đến thời cuộc thực tế và bàn cờ chính trị thế giới. Còn Trương Tấn Sang tuy cũng tham gia cống hiến cho chế độ từ ngày còn chiến tranh nhưng đương đầu với Nguyễn Tấn Dũng ông cũng chưa phải đối thủ. Những người đỡ đầu Tư Sang so với Lê Đức Thọ, Đỗ Mười, Lê Đức Anh còn dưới cơ rất xa. Ngay Nguyễn Văn Linh còn sợ Lê Đức Thọ như sợ cọp và Đỗ Mười cũng luôn lấn át được Nguyễn Văn Linh ngay cả khi ông này là Tổng Bí Thư đương nhiệm. Họp Bộ Chính Trị để quyết về đổi mới triệt để, 12 trên 14 ủy viên tán thành nhưng chỉ một mình Đỗ Mười bác thì Nguyễn Văn Linh cũng không dám thông qua. Vì ông biết sau lưng Đỗ Mười còn có Lê Đức Thọ và những anh lớn khác nữa. Bí Thư Sài Gòn Võ Trần Chí thì đã rụng từ lâu, trong khi Võ Văn Kiệt thì đổi mới ba phải. Nói chung những nhân vật miền Nam không có trọng lượng khi tranh giành vị trí thống lĩnh nên Tư Sang bây giờ muốn mạnh động cũng không có lực lượng hậu thuẫn trong tay, chỉ lu loa cho sướng miệng nhằm tư lợi cho phe nhóm. Ba Dũng ngược lại được kèm cặp triệt để vì ông được coi là Thái Tử chính thức của Lê Đức Anh và nhóm Lê Đức Thọ.
Chế độ Cộng Sản là một chế độ độc tài toàn trị và bản chất của nó là chuyên chế trấn áp. Do không có cơ chế kiểm tra chế tài với bộ máy nên nó đã trở thành một sự vận hành giống như là tương tác với âm binh mà không điều khiển được âm binh. Tham nhũng đã ăn sâu vào xương tủy đất nước Việt Nam trong bối cảnh các nhóm lợi ích ngày càng lan rộng và xảo quyệt. Thành phần cơ hội và tham lam này luôn biến hóa và băng hoại khôn lường. Họ dư sức hiểu nếu Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang hạ được Nguyễn Tấn Dũng thì lợi lộc của họ cũng bị mất đi trong khi sự sụp đổ của thể chế vẫn là không thể cứu vãn. Bộ máy ưu tú của Đảng tài ba đến nỗi họ biết phải làm một điều gì đó trong thế cùng đường của độc tài chính trị nhưng không biết sẽ làm gì cụ thể. Nếu các phe nhóm để phe trung thành với định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa mà cầm quyền rồi cũng sẽ chỉ biết in tiền ăn dần cho tới lúc tiền là giấy lộn. Trong khi nếu họ cùng bảo vệ Nguyễn Tấn Dũng tại vị thì các chiêu phù thủy của ông Thủ Tướng âm binh này vẫn được biểu diễn và sự vơ vét của các nhóm lợi ích vẫn được kéo dài ngày nào hay ngày đấy trước khi họ kịp hạ cánh an toàn. Đó là chưa kể các đàn em của Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang và Phùng Quang Thanh cũng là một lũ tham nhũng hại dân không thua gì phe Ba Dũng, sự đấu đá quyền lực của họ chỉ nhằm phân chia lợi ích cho các bên đỡ thua thiệt hơn mà thôi. Ba Dũng có xuống thì những con sâu khác nhảy lên sẽ chẳng hơn gì. Nếu mọi biến động lẻ tẻ gần đây chưa đủ để làm chế độ sụp đổ thì các phe nhóm sẽ không dại gì lại rút dây để động rừng. Họ sẽ thỏa hiệp với nhau và kẻ thua cuộc lớn nhất sẽ vẫn chính là nhân dân. Mọi động thái những ngày qua chỉ là sự củng cố quyền lợi của những kẻ cầm quyền và như vậy Nguyễn Tấn Dũng vẫn rất khó bị hạ bệ. Chưa kể dù để bảo vệ chế độ mà hạ Ba Dũng thì cũng chỉ có tác dụng hình thức. Ba Dũng phía sau sân khấu thực chất vẫn nắm được các nhân vật trọng yếu của bộ máy và cầm chịnh kinh tế quốc gia trong tay ông dư sức khuynh đảo sân khấu chính trị Việt Nam. Ta thấy những ngày qua các hoạt đông thâu tóm ngân hàng và chiếm đoạt tài sản quốc gia mang hơi hướng maphia Nga đã được nhóm Ba Dũng thực hiện siêu tốc. Bài học thực quyền này đã được Lê Đức Thọ và Lê Đức Anh thực hành từ mấy chục năm trước rồi. Lê Đức Thọ tuy chỉ giữ chức Trưởng ban tổ chức Trung Ương nhưng được Lê Duẩn tin cậy nên sắp đặt bàn cờ chính trị của Đảng Cộng Sản suốt 30 năm áp đảo ngay cả Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh chứ đừng nói cỡ Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt. Lê Đức Anh thời trước tuy là Chủ Tịch nước nhưng thực quyền bao trùm nắm cả an ninh, quốc phòng, đối ngoại và đã giật dây cho Pháp Lệnh Tình Báo ra đời để Tổng Cục 2 nắn gân được tất cả các lãnh đạo cao cấp của Đảng vốn toàn những kẻ cơ hội ném đá dấu tay, tham nhũng đầy mình. Trong Bộ Chính Trị thời đó tiếng nói của Lê Đức Anh là có trọng lượng nhất. Phe Tư Sang và Trưởng Ban Lú Lẫn Trung Ương dàn mưu tính kế thì Nguyễn Tấn Dũng cũng xảo quyệt khôn lường tìm cách đối phó chứ đâu phải tay mơ mà ngồi chờ bị tấn công.
Đối với Nguyễn Tấn Dũng, để hạ bệ ông chỉ có nhân dân mới là những người hành động đích thực. Khi sự kiên nhẫn của xã hội đã hết, sức mạnh của nhân dân sẽ bùng lên trong chốc lát và giật sập bạo quyền. Những vụ biểu tình trong những ngày qua của nông dân mất đất và các giáo dân thật sự mới là mối đe dọa lớn đối với đương kim Thủ Tướng Việt Nam. Nếu nhân dân Việt Nam ý thức được vận mệnh quốc gia nâng cao dân trí, cập nhật những kiến thức và giá trị dân chủ để đấu tranh bản lĩnh và trí tuệ hơn thì ngày đạp đổ chế độ độc tài này sẽ không còn bao xa nữa.
Nguyễn Xuân Chi.
Trước khi đề cập đến chuyện hạ bệ ngài Thủ Tướng Việt Nam chúng ta hãy cùng dông dài về mấy nhân vật của chính quyền một chút.
Đầu tiên, phải nói đến cầu thủ bóng đá Vũ Minh Hiếu, cựu tiền vệ của đội Công An Hà Nội, cựu tuyển thủ của đội tuyển Việt Nam và cũng là Trung Úy của Lực Lượng Công An Nhân Dân Việt Nam. Vũ Minh Hiếu giải nghệ vào năm 2005 sau 16 năm theo nghiệp quần đùi áo số. Là một tiền vệ khá tài hoa cho nên dù chỉ như một con ốc nhỏ trong bộ máy nhưng Vũ Minh Hiếu cũng được coi là đã có cống hiến cho nhà nước. Thêm nữa cũng được đồng đội tin cậy và lãnh đạo thương cho nên sau khi giải nghệ anh đã được cấp trên sắp xếp về Đội Cảnh Sát Giao Thông số 2 của Công An Thành Phố Hà Nội. Một quyết định rất hợp tình hợp lý vì Vũ Minh Hiếu “đã quen dang nắng bao năm” nên tiếp tục dang nắng ngoài đường là đúng sở trường. Có nhiều khán giả khi thấy Vũ Minh Hiếu ngoài đường đã ngạc nhiên “Ông mà cũng ra đứng đường à?” là vì họ không hiểu hết hiện tình của Công An Nhân Dân Việt Nam và Lực Lượng Cảnh Sát Giao Thông trong bối cảnh như thượng tướng Thứ Trưởng Bộ Công An Lê Thế Tiệm từng băn khoăn “ngoài đường có gì ngoài nắng bụi và khói xe mà ai cũng xin cho con em được làm Cảnh Sát Giao Thông, được ra đứng đường?” Chúng ta không dám khẳng định rằng Vũ Minh Hiếu đã là Cảnh Sát Giao Thông thì tha hồ ăn hối lộ mà chúng ta luôn hy vọng anh sẽ giữ được mình trong sạch. Vì bây giờ Cảnh Sát Giao Thông có nhiều nhà lầu và nhiều xe hơi không phải là chuyện hiếm. Theo người quen của người viết tiết lộ có tay Cảnh Sát Giao Thông muốn xin lãnh đạo cho được đứng thêm 1 năm nữa tại Trạm Liên Chiểu trên Quốc Lộ 1 thuộc địa bàn thành phố Đà Nẵng mà phải chung đủ 500 triệu đồng. Mới nghe thì hết hồn nhưng tính nhẩm lại thì ra ngay! 500 triệu cho một năm tức là 41 triệu một tháng. Vậy một ngày mà cứ kiếm nhiều hơn 1 triệu 300 ngàn là có ăn. Con số này mà so với lượng xe khách, xe tải Bắc-Nam chạy nườm nượp trên quốc lộ 1 thì chỉ là con số lẻ. Xe nộp mãi lộ ít thì 100 ngàn nhiều thì không có giá, thật không biết cách nào đếm cho hết tiền! Vũ Minh Hiếu bây giờ không biết được phân công nhiệm vụ gì, nếu anh được châm chước lên cỡ lãnh đạo tép riu thôi là tự nhiên bổng lộc sẽ kéo tới chẳng cần tốn công gì nhiều. Còn nếu anh là sỹ quan thanh liêm và vẫn còn trong biên chế của tổ chống ùn tắc quận Ba Đình và Tây Hồ thì anh và đồng đội cũng vẫn có thể sống xông xênh vì Lực Lượng Cảnh Sát Giao Thông được hưởng bồi dưỡng tới 70% tiền phạt vi phạm giao thông trong toàn quốc. Điều này đã được Bộ Tài Chính quy định rõ ràng từ nhiều năm rồi. Công An Nhân Dân là lực lượng con cưng của nhân dân và chế độ nên tất nhiên được ưu ái hơn các thành phần khác.
Tiếp theo là một cán bộ cấp cao, ông Trần Xuân Bách.
Trần Xuân Bách là Ủy Viên Trung Ương Đảng từ năm 1982 sau đó vào Bộ Chính Trị trong Đại Hội Đảng 6 năm 1986. Trưởng thành từ cơ sở và kinh qua các chức vụ lãnh đạo của các địa phương Khu III như Ninh Bình, Nam Định… ông đã trở thành nhân vât thứ 10 trong Bộ Chính Trị và có thể được cơ cấu sẽ thay Tổng Bí Thư lúc đó là ông Nguyễn Văn Linh. Là Trưởng Ban Đối Ngoại Trung Ương và nghiên cứu về lý luận của Đảng Cộng Sản Việt Nam thời đó, tư tưởng cách tân của ông là cổ vũ đa nguyên trong Đảng và mở rộng dân chủ trong bối cảnh các nước Đông Âu cũng như Liên Xô cũ đã thay đổi.Thế nhưng từ một vị thế của một ngôi sao đang lên ông đã bị những đồng chí của mình hạ bệ vào năm 1990 vì những nhân vật bảo thủ của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lo sợ nguy cơ mất chế độ. Ông mất cả vị trí trong Bộ Chính Trị và Trung Ương Đảng, sau đó được ông Nguyễn Cơ Thạch kéo về Bộ Ngoại Giao nghiên cứu chơi chơi 2 năm. Sau khi ông Thạch bị thất sủng do bị Trung Quốc giật dây thì ông cũng nghỉ luôn. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã biến ông trong phút chốc từ một Tổng Bí Thư tương lai thành một kẻ trở cờ và sống cuộc đời thường dân vô danh. Năm 2006 ông chết trong lặng lẽ.
Hai người nữa là đương kim Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc và đương kim Bí Thư Thành phố Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh. Cả 2 ông đều từ Quảng Nam đi lên, một từ Quế Sơn một từ Hòa Vang. Trải qua các chức vụ nhỏ từ cấp huyện hai vị quan nhà nước này đã lên như diều và làm vua một cõi. Sau khi làm Bí Thư Quảng Nam trong thời kỳ tách tỉnh, ông Phúc lên tiếp Văn Phòng Chính Phủ và hiện là Ủy Viên Bộ Chính Trị, Phó Thủ Tướng nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Một bất ngờ cho những người Quảng Nam! Ông Thanh dừng lại ở vị trí Ủy Viên Trung Ương, Bí Thư thành phố Đà Nẵng. Gần đây có tin vỉa hè rằng ông sẽ làm Bí Thư thành phố Hà Nội. Nếu quả thực như vậy thì quá bất ngờ! Và cũng buồn cho Việt Nam, buồn cho người Hà Nội giỏi đấu đá quá mà triệt hết nhân tài để phải sử dụng một tay gian hùng như Bá Thanh!
Chúng ta thấy gì qua những nhân vật này của chế độ?
Thứ nhất, nếu anh trung thành anh sẽ được chế độ đãi ngộ.
Thứ hai, nếu anh bị coi là phản bội anh sẽ bị tiêu diệt không thương tiếc. Sự tồn vong của chế độ được đặt lên trên hết, trên cả quyền lợi của nhân dân.
Thứ ba, nếu anh trung thành mà lại khôn ngoan biết theo bè theo cánh anh có thể đạt được quyền lợi vô biên, chạm trần quyền lực. Còn nếu anh là một kỳ đà cản mũi đường đi của các đồng chí, anh không bao giờ có cơ hội lên cao.
Điều tiên quyết là anh phải được chiến hữu ủng hộ và lãnh đạo yêu thương cất nhắc. Trong một Đảng phái khép kín như Đảng Cộng Sản Việt Nam anh còn phải biết ẩn nhẫn chờ thời, biết đón chiều gió khéo léo che chắn mới mong hoạn lộ thênh thang.
Trở lại trường hợp của ông Nguyễn Xuân Phúc và ông Nguyễn Bá Thanh hẳn chúng ta còn nhớ cách đây mười mấy năm không ai biết anh chàng Nguyễn Xuân Phúc là ai cả. Nhưng lúc ấy Nguyễn Bá Thanh đã được thiên hạ nhắc tên rất nhiều. Làm vua một cõi tiền bạc cả hai không thiếu, thủ đoạn cũng có thừa nhưng sao Nguyễn Xuân Phúc có thể leo cao chót vót trong khi Nguyễn Bá Thanh vẫn dừng chân ở chức Trung Ương Ủy Viên? Câu trả lời là Bá Thanh chính kẻ gian hùng, thủ đoạn tàn khốc, đã xuống tay hạ độc thủ thiếu tướng công an Trần Văn Thanh quá tàn ác nên bị lãnh đạo kiềng mặt dè chừng.
Những kẻ ác chơi chung với nhau thói đời chẳng ai tin ai!
Trong khi đó Nguyễn Xuân Phúc thuần hơn, làm quan cộng sản không ai thiếu tiền để lót đường cũng như các thủ thuật chính trị nhưng Xuân Phúc biết nhường trên nhường dưới hơn Bá Thanh. Ông đã khôn ngoan, trọng thị và đón tiếp Nguyễn Tấn Dũng rất chu đáo mỗi khi vị này thị sát miền Trung lúc còn là phó cho Thủ Tướng Phan Văn Khải. Bởi vậy khi cần kẻ trợ lực lúc trở thành Thủ Tướng, Ba Dũng đã nghĩ ngay đến Nguyễn Xuân Phúc và nâng đỡ vị cựu Bí Thư Quảng Nam lên tới Ủy Viên Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam. Rõ ràng trong những kẻ cơ hội mà chọn thằng ít gian hùng vẫn hơn là thằng nhiều gian hùng.
Lan man về vài nhân vật của chế độ là vậy còn đương kim Thủ Tướng của chúng ta thì như thế nào?
Nguyễn Tấn Dũng xuất thân là quân nhân. Ông gia nhập Quân Đội Nhân Dân Việt Nam từ rất sớm, khi mới 12 tuổi, là thiếu sinh quân du kích. Trải đủ cấp bậc từ lính lác lên tới Thủ Tướng của một quốc gia trong một chế độ khép kín như Việt Nam rõ ràng chẳng hề đơn giản. Những nước cờ chồng chéo, những liên hệ dây mơ rễ má của những kẻ cơ hội có thể làm đau đầu những người tìm hiểu về bàn cờ chính trị Việt Nam thời hiện đại.
Nhiều người chê Nguyễn Tấn Dũng chỉ là y sỹ, là lính kiểng nhưng trong chiến trường thực tế thì y sỹ hay lính chiến đấu cũng đều cầm súng cùng nếm mùi gian khổ như nhau. Nguyễn Tấn Dũng đã trải đủ qua cuộc chiến gian nan và phục viên với cấp bậc thiếu tá năm 1981. Vào thời đó ít người để ý đến viên thiếu tá này nhưng nếu biết rằng sau đó 14 năm Nguyễn Tấn Dũng đã là Thứ Trưởng Bộ Nội Vụ tức là ngang chức Trung Tướng hẳn nhiều người sẽ ngộ ra rằng việc ông phục viên và đi học Trường Đảng cao cấp là một cơ cấu tính trước của các bậc đỡ đầu. Người đỡ đầu nặng ký nhất của ông chính là Đại Tướng Lê Đức Anh nguyên Tư Lệnh Quân Khu 9, Quân Khu 7 và một đàn em của vị tư lệnh này nữa là cựu Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu. Năm 1974 thượng tá Lê Khả Phiêu là chính ủy Quân Đoàn 2 nhưng quá mê gái để bị tai tiếng nên được các đàn anh Thanh Hóa cho lánh vào Quân Khu 9 trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam đã sắp hạ màn. Sự kết hợp giữa Lê Đức Anh và Lê Khả Phiêu đã gây một mối họa to lớn cho dân tộc Việt Nam sau này. Lê Đức Anh là cánh hẩu của Lê Đức Thọ từ năm 1979 khi Lê Đức Thọ được Bộ Chính Trị phân công làm Trưởng Ban Chính Trị Đặc Biệt phụ trách chiến trường Campuchia nên đã được bậc trưởng thượng này lựa chọn cho thành phần kế cận. Thời gian Nguyễn Tấn Dũng phục viên cũng chính là lúc Lê Đức Anh được Sáu Búa kéo lên Trung ương và trao vào tay ông chức Thứ Trưởng Bộ Quốc Phòng, một bàn đạp để nắm luôn chức Bộ Trưởng. Khi đó trong quân đội có nhiều sỹ quan kiên trung rất phản đối việc này vì tài năng của ông thua xa nhiều vị tướng khác như Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái… cho nên với một chàng thiếu tá trong thời bình như Ba Dũng việc ngoi lên thành tướng lĩnh cao cấp sẽ rất khó khăn và dễ bị soi. Bởi vậy Ba Dũng mới được sắp xếp chuyển qua bên chính quyền và những công tác của Ba Dũng tại Kiên Giang chỉ là nền tảng cho vị Thủ Tướng tương lai bay lên như hỏa tiễn tiếp đó. Năm 1982 Ba Dũng mới chỉ là Phó ban tổ chức cán bộ của Kiên Giang nhưng 4 năm sau đã là Bí Thư Tỉnh Ủy và có chân trong Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng. 9 năm sau nữa, trong Đại Hội 8 Ba Dũng đã là Ủy Viên Bộ Chính Trị phụ trách kinh tế cho các cụ và nằm trong Ban Thường Vụ 5 người, tức là thành phần cao cấp nhất gồm Tổng Bí Thư Đỗ Mười, Chủ Tịch Lê Đức Anh, Thủ Tướng Võ Văn Kiệt và Chủ Nhiệm Tổng Cục Chính Trị Lê Khả Phiêu. Cả nhân vật mới là Dũng và Phiêu được cơ cấu vào Thường Vụ nhằm nắm chắc chức Tổng Bí Thư và Phó Thủ Tướng thường Trực. Vị trí của Ba Dũng đến lúc này đã vững như bàn thạch vì được chung vai với các vị bô lão. Cũng như Lê Đức Anh, đối với Ba Dũng thì Đỗ Mười cũng rất ưu ái vì ông này cũng là đàn em ruột của Lê Đức Thọ. Còn Võ Văn Kiệt trong chiến tranh cũng là bạn chiến đấu với các bậc cha chú của Ba Dũng. Bởi vậy việc Ba Dũng chưa ra giành chức Thủ Tướng với Phan Văn Khải thời điểm năm 1997 là vì ông còn trẻ quá, mới chỉ có 48 tuổi. Nhưng với chức Phó Thủ Tướng thường trực trong tay thì ông có thể tự quyết được vận mệnh chính trị của mình. Và như chúng ta đã thấy sau khi Phan Văn Khải nghỉ không ai khác hơn Nguyễn Tấn Dũng điều hành chính phủ Việt Nam.
Hiện nay trong tầng lớp lãnh đạo thượng tầng, quyền lực của Ba Dũng là áp đảo. Đối với một người được cơ cấu để cố ý leo lên đến đỉnh cao như Ba Dũng thì mọi miếng võ chính trị đều được ông nắm chắc và từng dùng. Vào Đảng từ năm 18 tuổi trải qua 45 năm tôi luyện trong chế độ độc tài và hơn 30 năm lăn lộn trong chính trường có lẽ không ai qua được Ba Dũng về các thủ đoạn đấu đá. Và tất nhiên để ngoi lên tới chức Thủ Tướng ông đã ban phát chức vụ và bổng lộc cho không biết bao nhiêu chiến hữu trong phe đảng để tạo chân đứng vững chắc cho mình. Trong đảng bộ khối chính phủ Ba Dũng trấn áp quần hùng không chỉ với tư cách Thủ Tướng mà còn với tư cách Ủy viên Bộ Chính Trị kỳ cựu nhất, từ Đại Hội 8 trước Phùng Quang Thanh hai khóa và Trần Đại Quang, Nguyễn Xuân Phúc 3 khóa. Ba Dũng tự quyết tự tác thành lập các Tổng công ty, các Tập Đoàn ăn hại cũng như điều hành kinh tế quốc gia rất tùy hứng. Trong 2 nhiệm kỳ của ông tham nhũng đã băng hoại thành quốc nạn với các nhóm lợi ích được hình thành và tồn tại vững chắc trong mọi ngóc nghách xã hội Việt Nam trong khi mọi tiếng nói phản biện của các nhân sỹ trí thức đều bị ông dập tắt từ trong trứng nước. Bên ngoài Chính Phủ các chiến hữu của ông như Lê Hồng Anh, Nguyễn Sinh Hùng, Trương Hòa Bình… đang cài cắm khắp nơi.
Trong khi đó 2 đối thủ đồng chí của ông, người thì nắm chức vụ Chủ Tịch không thực quyền người thì dù là Tổng Bí Thư nhưng lại mải nghiên cứu lý luận kiêm lú lẫn trung ương không hề giỏi các thủ đoạn bằng Ba Dũng. Trong cuộc đua vào chức Tổng Bí Thư Đại Hội 11 vừa qua, Ba Dũng không toại nguyện là vì phải có trách nhiệm khắc phục hậu quả kinh tế lụn bại và sự đổ vỡ của Vinashin cũng như các Tổng Công Ty nhưng các đối thủ của Ba Dũng cũng không thể lên được. Các bên đã thỏa hiệp bằng ông bù nhìn Nguyễn Phú Trọng, một nhân vật bàn giấy đặc trưng. Tuy vào Bộ Chính Trị cũng từ ngay sau Đại Hội 8 nhưng đương kim Tổng Bí Thư suốt ngày nghiên cứu lý luận Mác Lênin và kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa chẳng để tâm gì đến thời cuộc thực tế và bàn cờ chính trị thế giới. Còn Trương Tấn Sang tuy cũng tham gia cống hiến cho chế độ từ ngày còn chiến tranh nhưng đương đầu với Nguyễn Tấn Dũng ông cũng chưa phải đối thủ. Những người đỡ đầu Tư Sang so với Lê Đức Thọ, Đỗ Mười, Lê Đức Anh còn dưới cơ rất xa. Ngay Nguyễn Văn Linh còn sợ Lê Đức Thọ như sợ cọp và Đỗ Mười cũng luôn lấn át được Nguyễn Văn Linh ngay cả khi ông này là Tổng Bí Thư đương nhiệm. Họp Bộ Chính Trị để quyết về đổi mới triệt để, 12 trên 14 ủy viên tán thành nhưng chỉ một mình Đỗ Mười bác thì Nguyễn Văn Linh cũng không dám thông qua. Vì ông biết sau lưng Đỗ Mười còn có Lê Đức Thọ và những anh lớn khác nữa. Bí Thư Sài Gòn Võ Trần Chí thì đã rụng từ lâu, trong khi Võ Văn Kiệt thì đổi mới ba phải. Nói chung những nhân vật miền Nam không có trọng lượng khi tranh giành vị trí thống lĩnh nên Tư Sang bây giờ muốn mạnh động cũng không có lực lượng hậu thuẫn trong tay, chỉ lu loa cho sướng miệng nhằm tư lợi cho phe nhóm. Ba Dũng ngược lại được kèm cặp triệt để vì ông được coi là Thái Tử chính thức của Lê Đức Anh và nhóm Lê Đức Thọ.
Chế độ Cộng Sản là một chế độ độc tài toàn trị và bản chất của nó là chuyên chế trấn áp. Do không có cơ chế kiểm tra chế tài với bộ máy nên nó đã trở thành một sự vận hành giống như là tương tác với âm binh mà không điều khiển được âm binh. Tham nhũng đã ăn sâu vào xương tủy đất nước Việt Nam trong bối cảnh các nhóm lợi ích ngày càng lan rộng và xảo quyệt. Thành phần cơ hội và tham lam này luôn biến hóa và băng hoại khôn lường. Họ dư sức hiểu nếu Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang hạ được Nguyễn Tấn Dũng thì lợi lộc của họ cũng bị mất đi trong khi sự sụp đổ của thể chế vẫn là không thể cứu vãn. Bộ máy ưu tú của Đảng tài ba đến nỗi họ biết phải làm một điều gì đó trong thế cùng đường của độc tài chính trị nhưng không biết sẽ làm gì cụ thể. Nếu các phe nhóm để phe trung thành với định hướng Xã Hội Chủ Nghĩa mà cầm quyền rồi cũng sẽ chỉ biết in tiền ăn dần cho tới lúc tiền là giấy lộn. Trong khi nếu họ cùng bảo vệ Nguyễn Tấn Dũng tại vị thì các chiêu phù thủy của ông Thủ Tướng âm binh này vẫn được biểu diễn và sự vơ vét của các nhóm lợi ích vẫn được kéo dài ngày nào hay ngày đấy trước khi họ kịp hạ cánh an toàn. Đó là chưa kể các đàn em của Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang và Phùng Quang Thanh cũng là một lũ tham nhũng hại dân không thua gì phe Ba Dũng, sự đấu đá quyền lực của họ chỉ nhằm phân chia lợi ích cho các bên đỡ thua thiệt hơn mà thôi. Ba Dũng có xuống thì những con sâu khác nhảy lên sẽ chẳng hơn gì. Nếu mọi biến động lẻ tẻ gần đây chưa đủ để làm chế độ sụp đổ thì các phe nhóm sẽ không dại gì lại rút dây để động rừng. Họ sẽ thỏa hiệp với nhau và kẻ thua cuộc lớn nhất sẽ vẫn chính là nhân dân. Mọi động thái những ngày qua chỉ là sự củng cố quyền lợi của những kẻ cầm quyền và như vậy Nguyễn Tấn Dũng vẫn rất khó bị hạ bệ. Chưa kể dù để bảo vệ chế độ mà hạ Ba Dũng thì cũng chỉ có tác dụng hình thức. Ba Dũng phía sau sân khấu thực chất vẫn nắm được các nhân vật trọng yếu của bộ máy và cầm chịnh kinh tế quốc gia trong tay ông dư sức khuynh đảo sân khấu chính trị Việt Nam. Ta thấy những ngày qua các hoạt đông thâu tóm ngân hàng và chiếm đoạt tài sản quốc gia mang hơi hướng maphia Nga đã được nhóm Ba Dũng thực hiện siêu tốc. Bài học thực quyền này đã được Lê Đức Thọ và Lê Đức Anh thực hành từ mấy chục năm trước rồi. Lê Đức Thọ tuy chỉ giữ chức Trưởng ban tổ chức Trung Ương nhưng được Lê Duẩn tin cậy nên sắp đặt bàn cờ chính trị của Đảng Cộng Sản suốt 30 năm áp đảo ngay cả Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh chứ đừng nói cỡ Nguyễn Văn Linh, Võ Văn Kiệt. Lê Đức Anh thời trước tuy là Chủ Tịch nước nhưng thực quyền bao trùm nắm cả an ninh, quốc phòng, đối ngoại và đã giật dây cho Pháp Lệnh Tình Báo ra đời để Tổng Cục 2 nắn gân được tất cả các lãnh đạo cao cấp của Đảng vốn toàn những kẻ cơ hội ném đá dấu tay, tham nhũng đầy mình. Trong Bộ Chính Trị thời đó tiếng nói của Lê Đức Anh là có trọng lượng nhất. Phe Tư Sang và Trưởng Ban Lú Lẫn Trung Ương dàn mưu tính kế thì Nguyễn Tấn Dũng cũng xảo quyệt khôn lường tìm cách đối phó chứ đâu phải tay mơ mà ngồi chờ bị tấn công.
Đối với Nguyễn Tấn Dũng, để hạ bệ ông chỉ có nhân dân mới là những người hành động đích thực. Khi sự kiên nhẫn của xã hội đã hết, sức mạnh của nhân dân sẽ bùng lên trong chốc lát và giật sập bạo quyền. Những vụ biểu tình trong những ngày qua của nông dân mất đất và các giáo dân thật sự mới là mối đe dọa lớn đối với đương kim Thủ Tướng Việt Nam. Nếu nhân dân Việt Nam ý thức được vận mệnh quốc gia nâng cao dân trí, cập nhật những kiến thức và giá trị dân chủ để đấu tranh bản lĩnh và trí tuệ hơn thì ngày đạp đổ chế độ độc tài này sẽ không còn bao xa nữa.
Nguyễn Xuân Chi.
Cương lĩnh Chính trị và Phương thức Hoạt động của Nhóm Vì Dân
Trong nỗ lực tranh đấu, vận động dân chủ hoá Việt nam, nhiều tổ chức, hội đoàn, phong trào đã dành thì giờ suy nghĩ, soạn thảo những đề cương chính trị, tư tưởng nòng cốt, nguyên tắc chỉ đạo cho sinh hoạt của tổ chức. Đó là những nỗ lực đáng khuyến khích và nằm trong lãnh vực tự do tự tưởng, quan niệm tổ chức, lập hội và phương thức hoạt động của mỗi đoàn thể.
Nhóm Vì Dân quan niệm rằng trong mấy trăm năm qua, nhân loại đã giới thiệu nhiều ý thức hệ về sinh hoạt xã hội với sự đúc kết thành những thể chế chính trị, tức “chính thể”, để hệ thống hoá việc quản trị công đồng, từ các làng xã, cho đến đô thị, và sau đó là nhà nước, quốc gia. Nhân loại trong mấy trăm năm qua cũng đã trải nghiệm nhiều chính thể và đã trả giá khá đắt về nhân mạng, tài sản cho những thử nghiệm đó nhằm tiến đến một chính thể lý tưởng.
Nhóm Vì Dân nhận định rằng một xã hội lý tưởng là không tưởng vì nó phải thể hiện tính “con người” của nhân loại; và vì con người vốn bất toàn nên chính thể con người nghĩ ra và tạo thành cũng chỉ tương đối về hiệu quả và hiệu năng. Sau khi tìm hiểu, so sánh, và phân tích các chính thể, chúng tôi cho rằng ở thời điểm thế kỷ 21 hiện nay, một chính thể tương đối hoàn thiện có thể được kiến tạo dựa trên 3 đặc tính chính yếu sau:
- Chính trị dân chủ (Democratic politics): Người dân quyết định hệ thống quyền lực chính trị thông qua bầu cử định kỳ, thực sự thể hiện tính chất “của dân, do dân, vì dân” của chính quyền; chính thể có sự phân lập giữa lập pháp, hành pháp, và tư pháp; có những biện pháp kiểm tra lẫn nhau để đạt được sự cân bằng quyền lực chính trị. Thể chế dân chủ bảo đảm nhân quyền căn bản của mọi người được hiệu quả nhất.
- Kinh tế thị trường (Market economy): Sinh hoạt thương mại, buôn bán trong xã hội được đặt trên cơ sở thị trường tự do; chính quyền chỉ có chức năng điều hành để bảo đảm bình đẳng trong cơ hội, khuyến khích tự do cạnh tranh lành mạnh trong thương trường; và đảm bảo đảm tính công bằng xã hội và an sinh của mọi công dân.
- Xã hội cởi mở (Open society): Quan hệ giữa các thành viên trong xã hội phải dựa trên sự tôn trọng nhân phẩm và tự do của mọi người; loại bỏ mọi hình thức đối xử phân biệt vì sắc tộc, giai cấp, phái tính, tuổi tác, tôn giáo, v.v… Nghiêm cấm “đấu tranh giai cấp” và hành xử bạo lực trong xã hội.
Dựa trên 3 đặc tính này, quốc hội sẽ soạn thảo hiến pháp và các bộ luật thích hợp để thực hiện cụ thể những chương trình, chính sách phục vụ nhân dân theo những lý tưởng tự do, dân chủ, nhân quyền phổ quát của nhân loại.
Do đó, Nhóm Vì Dân xem 3 đặc tính nêu trên là mục tiêu, là kim chỉ nam cho tất cả mọi hoạt động trong nỗ lực chung để kiến tạo một xã hội Việt nam tự do, dân chủ, hậu cộng sản. Ngoài ra, hai tiêu chí hoạt động là “trung thực” (không dối trá) và “liêm chính” (không tham nhũng) cũng là giá trị cốt lõi của các thành viên.
Những điều trên là tổng quan về quan điểm chính trị và phương thức hoạt động của Nhóm Vì Dân. Thời điểm này chính là giai đoạn quyết định sự sống còn của dân tộc và đất nước chúng ta. Chúng tôi kêu gọi người Việt nam trong và ngoài nước hãy cùng nhau đoàn kết, nghĩ đến tương lai, và thực sự dấn thân cho nỗ lực cứu nước.
Melbourne, Australia, ngày 20 tháng 07 năm 2012 (Đúng 58 năm sau ngày Hiệp Định Geneva chia đôi đất nướ, hôm nay sẽ là ngày hàn gắn lại đất nước)
Nguyễn Xuân Châu
Thay mặt Nhóm Vì Dân
Nhóm Vì Dân quan niệm rằng trong mấy trăm năm qua, nhân loại đã giới thiệu nhiều ý thức hệ về sinh hoạt xã hội với sự đúc kết thành những thể chế chính trị, tức “chính thể”, để hệ thống hoá việc quản trị công đồng, từ các làng xã, cho đến đô thị, và sau đó là nhà nước, quốc gia. Nhân loại trong mấy trăm năm qua cũng đã trải nghiệm nhiều chính thể và đã trả giá khá đắt về nhân mạng, tài sản cho những thử nghiệm đó nhằm tiến đến một chính thể lý tưởng.
Nhóm Vì Dân nhận định rằng một xã hội lý tưởng là không tưởng vì nó phải thể hiện tính “con người” của nhân loại; và vì con người vốn bất toàn nên chính thể con người nghĩ ra và tạo thành cũng chỉ tương đối về hiệu quả và hiệu năng. Sau khi tìm hiểu, so sánh, và phân tích các chính thể, chúng tôi cho rằng ở thời điểm thế kỷ 21 hiện nay, một chính thể tương đối hoàn thiện có thể được kiến tạo dựa trên 3 đặc tính chính yếu sau:
- Chính trị dân chủ (Democratic politics): Người dân quyết định hệ thống quyền lực chính trị thông qua bầu cử định kỳ, thực sự thể hiện tính chất “của dân, do dân, vì dân” của chính quyền; chính thể có sự phân lập giữa lập pháp, hành pháp, và tư pháp; có những biện pháp kiểm tra lẫn nhau để đạt được sự cân bằng quyền lực chính trị. Thể chế dân chủ bảo đảm nhân quyền căn bản của mọi người được hiệu quả nhất.
- Kinh tế thị trường (Market economy): Sinh hoạt thương mại, buôn bán trong xã hội được đặt trên cơ sở thị trường tự do; chính quyền chỉ có chức năng điều hành để bảo đảm bình đẳng trong cơ hội, khuyến khích tự do cạnh tranh lành mạnh trong thương trường; và đảm bảo đảm tính công bằng xã hội và an sinh của mọi công dân.
- Xã hội cởi mở (Open society): Quan hệ giữa các thành viên trong xã hội phải dựa trên sự tôn trọng nhân phẩm và tự do của mọi người; loại bỏ mọi hình thức đối xử phân biệt vì sắc tộc, giai cấp, phái tính, tuổi tác, tôn giáo, v.v… Nghiêm cấm “đấu tranh giai cấp” và hành xử bạo lực trong xã hội.
Dựa trên 3 đặc tính này, quốc hội sẽ soạn thảo hiến pháp và các bộ luật thích hợp để thực hiện cụ thể những chương trình, chính sách phục vụ nhân dân theo những lý tưởng tự do, dân chủ, nhân quyền phổ quát của nhân loại.
Do đó, Nhóm Vì Dân xem 3 đặc tính nêu trên là mục tiêu, là kim chỉ nam cho tất cả mọi hoạt động trong nỗ lực chung để kiến tạo một xã hội Việt nam tự do, dân chủ, hậu cộng sản. Ngoài ra, hai tiêu chí hoạt động là “trung thực” (không dối trá) và “liêm chính” (không tham nhũng) cũng là giá trị cốt lõi của các thành viên.
Những điều trên là tổng quan về quan điểm chính trị và phương thức hoạt động của Nhóm Vì Dân. Thời điểm này chính là giai đoạn quyết định sự sống còn của dân tộc và đất nước chúng ta. Chúng tôi kêu gọi người Việt nam trong và ngoài nước hãy cùng nhau đoàn kết, nghĩ đến tương lai, và thực sự dấn thân cho nỗ lực cứu nước.
Melbourne, Australia, ngày 20 tháng 07 năm 2012 (Đúng 58 năm sau ngày Hiệp Định Geneva chia đôi đất nướ, hôm nay sẽ là ngày hàn gắn lại đất nước)
Nguyễn Xuân Châu
Thay mặt Nhóm Vì Dân
Saturday, July 14, 2012
Ông Nguyễn Thế Thảo bị Trung Quốc lợi dụng!?
[
Người Cộng Sản, mà còn là người Việt Nam. Thì không bao giờ bị ai lợi dụng. Đó là điểm thứ nhất.
Điểm thứ hai tôi xin nhắc lại là, liên hệ đến chuyện những "lái buôn cá Tàu ở Cam Ranh", họ thay phiên nhau cách 3 tháng đi đi về các chuyến làm ăn, và để Nhân công Việt nam đứng tên làm chủ.
Ông Nguyễn Thế Thảo này, cũng không khác chi những tên nhân công Việt nam đó.
Cả bộ máy Đảng Cộng Sản Việt Nam là nhân công của Đảng Cộng Sản Trung Quốc thì quá đáng. Nhưng cái vụ liên hệ là trong kỳ thông qua luật biển của VN vừa qua, cũng có một tên Voted "không".
Đối với tình thế hôm nay, chúng ta chỉ có thể điểm mặt là:
1. Những người Cộng sản Việt Nam nào "đồng tình với Dân tộc". Và bọn nào đứng tên cho giặc?
2. Những người Cộng sản Việt Nam đang nôn nóng, mừng thầm đã được đứng hẳn về phía Chống Giặc "tạm thời" lúc này, nhưng họ còn lo sợ. Và những người cố tình đi ngược lòng dân.
Nếu trong số tất cả các lãnh đạo đảng CSVN từ cơ sở Tỉnh thành trở lên. Thì điểm mặt xem người nào phản lòng dân?
]
=================
Ông Nguyễn Thế Thảo bị Trung Quốc lợi dụng!?
Nguyễn Tường Thụy - Báo chí đưa tin chiều 13/7/2012, ông Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hà nội đã phát biểu trước kỳ họp bế mạc của Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội.
“Về an ninh trật tự, ông Thảo đặc biệt lưu ý tình trạng tập trung đông người kéo về Hà Nội khiếu kiện có tổ chức theo chỉ đạo của đối tượng xấu. “Lợi dụng tình hình trên, các thế lực thù địch và số cơ hội chính trị đã kích động người dân, nhất là số người đi khiếu kiện ở các địa phương biểu tình để gây áp lực với chính quyền phải giải quyết những khiếu nại, yêu sách”, ông Thảo nói”.
Chủ tịch UBND Hà Nội cũng cho rằng trong các vụ tụ tập, biểu tình phản đối Trung Quốc, cũng có đa số là những người khiếu kiện đất đai bị lợi dụng để gây phức tạp về an ninh – trật tự”.
Lời phát biểu của ông Thảo có một ý cũ và một ý mới nhưng đều khó chấp nhận.
Nói về ý mới, ông Thảo cho rằng, vừa qua, những người nông dân khiếu kiện về đất đai bị lợi dụng tham gia vào cuộc biểu tình chống Trung Quốc để gây phức tạp về an ninh – trật tự.
Ai xúi giục, lôi kéo họ đây? Họ biểu tình chống Trung Quốc là trách nhiệm công dân của họ. Không thể nói những người dân oan không có tình yêu đối với Tổ quốc. Việc họ bị cướp đất, đi đấu tranh đòi quyền lợi và việc đi biểu tình chống Trung Quốc là hai chuyện khác nhau. Cảm phục những người nông dân vừa bị cướp đất, vừa bị đánh mà vẫn không quên trách nhiệm của một con dân nước Việt.
Còn ý cũ, vẫn là những luận điệu mà chính quyền, báo chí nói ra rả từ hơn một năm nay. Đó là việc gán cho những người biểu tình bị thế lực thù địch và bọn cơ hội chính trị lợi dụng, lôi kéo, kích động.
Nói thế, ông Thảo đã đứng ở vị trí bề trên mà nhìn xuống dưới, coi thường những người biểu tình. Ông làm như thể họ là những người không hiểu biết nên dễ bị lợi dụng, còn ông mới là người kiên định. Nói thế là ông đã xúc phạm đến họ. Họ không còn là bầy cừu để cho kẻ khác chăn dắt.
Xin hỏi ông, tại sao ông không lợi dụng họ mà lại nhường sân cho cái thằng vô hình nào đó. Trong tay ông có đủ hệ thống đảng và chính quyền đến tận tổ dân phố, một bộ máy tuyên truyền bằng báo chí, bằng hệ thống loa phường, bằng những buổi huấn thị, lên lớp công khai và cả một bộ máy cảnh sát, an ninh khổng lồ giám sát nhất cử nhất động của từng người dân. Vậy mà các ông lại không lợi dụng được họ mà để mấy thằng thù địch chẳng biết mắt ngang mũi dọc thế nào nó lợi dụng mất. Nói như vậy, có phải là ông đã thừa nhận là ông thua kém chúng nó không?
Và, khi ông nhận xét về những người biểu tình như thế, khi ông chủ trương không để dân bị xúi giục tụ tập biểu tình, ông có nghĩ rằng ông đang bị Trung Quốc nó lợi dụng không?
Người dân có đủ tai, mắt để nghe những lời nói phải, để nhìn xem ai là người làm được những gì cho họ và cho đất nước, ai là kẻ đang phá hoại đất nước, phá hoại cuộc sống và tương lai của họ.
13/7/2012
Subscribe to:
Posts (Atom)

