Sunday, August 19, 2012

Một câu hỏi nghiêm trọng - Làm sao để chống ngoại xâm, nội xâm?



Mấy hôm nay, tôi suy nghĩ.

1) Như bao lần tôi kêu gọi, suy đóan tình hình. Tôi vẫn thấy mình đúng. Điển hình là vấn đề Pháp Luật Việt Nam mà bà con trong nước phải cần tận dụng lấy tất cả các điều luật có thể, để làm cho Công An thi hành công vụ đúng. Họ sai luật, thì họ mất tất cả chính nghĩa cầm quyền, còn dân tận dụng luật đúng thì chính nghĩa thuộc về dân. 
2) Tôi muốn khẳn định một điểm thứ hai và cần phải vận dụng, đó là Cuộc Vận Động Dân Chủ Tập Trung, ngay trong lòng Đảng Cộng Sản Việt Nam. 

Cuộc VẬn Động Dân Chủ Tập Trung trong lòng Đảng Cộng Sản Việt Nam. Là cuộc vận động rất cần thiết. Đó là sức tập trung "Diễn Tiến Hòa Bình" mà tất cả Đảng Viên Cộng Sản đang thấy mình yếu, họ cần phải làm. 

! Các bạn phải suy luận rõ ràng giữa "Tiểu Não" và "Đại Não". Nguyên tắc tổ chức này rất rõ ràng. 

Bộ não Bộ Chính Trị gồm có 14 lãnh đạo, tất cả tổ chức qui chung cho một Đảng Cộng sản là một Đại Não - Tức là Đại Não. Sức mạnh một "tiểu não" là cá nhân một người, từng người. Từng người hoạt động chính trị không đi tới đâu, cả tập thể kết chặt tổ chức thành một Đại não. 

Vì thế, Đảng Viên Đảng Cộng Sản Việt Nam đang muốn ly khai vì bất mãng, không nên ra khỏi đảng ngay lúc này. Mà phải bám chặt trong lòng đảng. Các bạn có trách nhiệm để biên chế, vận dụng mọi nghị định của Đảng Cộng Sản Việt Nam đưa ra, và bám chặt vào các nghị định đó cộng với tâm huyết của mình muốn cho Việt Nam có Dân Chủ thật sự, Các bạn phải vận dụng toàn lực trong lòng đảng để sức mạnh ảnh hưởng ý kiến của các bạn cộng vớ sức mạnh của Nghị định chống tham nhũng và các quyết nghị bảo toàn chủ quyền quốc gia và phát huy kinh tế để làm cho tiếng nói Dân chủ trong Lòng đảng mạnh hơn. Pháp trị hơn. 

! Các bạn phải tận dụng, và vận dụng những ưu thế của đảng Viên có tầm khả năng đấu tranh hơn dân không thuộc Đảng viên. Chỉ có làng sóng này là không thể bị trù dập lúc này. Vì thế, trách nhiệm cổ vũ Báo chí truyền thông không thể nào do riêng chỉ đạo của phe không ủng hộ các bạn đang có quyền. Mà chính các bạn phải tận dụng lấy nó. 

Một điểnh hình rất rõ ràng, Bà Cụ Lê Hiền Đức, Anh Nguyễn Chí Đức là ai? Cù Huy Hà Vũ là ai? Họ là Đảng Viên, nên họ dám lên tiếng. Nhưng họ đã chỉ lên tiếng trong tinh thần cá nhân, đơn độc, độc lập! Không thể độc lập, mà cần sức mạnh tập thể Đảng viên CS lên tiéng. Và điển hình thành công hơn, là những người trí thức đang ký tên đòi hỏi Thành ủy Thành phố HCM ủng hộ biểu tình. Đà tiến này cần thực hiện nhiều hơn, qui tụ lớn hơn thành một tập thể trong lòng Đảng Cộng Sản để có thể đẩy mạnh tiến trình mới thật sự. 

Những đảng viên cộng sản việt nam, đang thật sự muốn Việt nam đổi mới thật sự. PHải tận dụng thế của họ. Chính họ mới là những người đấu tranh độc lập cho dân tộc thật sự. Ôn hòa, và sát xuất sẽ cao hơn cho một Việt nam thật sự theo ý họ muốn. 


Mạc Hùng,
Nhờ chuyển 

Báo Trung Quốc: “Quân đội Việt Nam có thể đánh thẳng đến Bắc Kinh”


Ngày 17-8, tờ báo mạng chính thống của tỉnh Hải Nam “Hinews.cn” đã đăng bài viết tiêu đề “Quân đội Việt Nam nói có thể đánh đến Bắc Kinh, lữ đoàn lính thuỷ đánh bộ quân giải phóng chuẩn bị chiến đấu” và đã được hàng trăm trang mạng của Trung Quốc đăng lại.
Nhìn vào tiêu đề, người ta đã thấy rõ ý đồ của người viết định kích động tâm lý thù địch với Việt Nam của người đọc. Hãy thử xem tác giả đã bịa đặt, vu cáo những gì để kích động dư luận Trung Quốc?
    Quân đội nhân dân Việt Nam luôn sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tố quốc chứ không phải đi xâm lược
Quân đội nhân dân Việt Nam luôn sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tố quốc chứ không phải đi xâm lược
Bài viết không đề tên tác giả và được mở đầu bằng thông tin, Trung Quốc có 2 lữ đoàn lính thuỷ đánh bộ thì cả 2 đều thuộc biên chế của Hạm đội Nam Hải phụ trách địa bàn biển Đông.
Lý do của việc này được giải thích: “Tình tình tranh chấp chủ quyền Nam Hải phức tạp, các đảo bãi của nước ta (Trung Quốc) bị chiếm nhiều” .
Bất chấp sự thật biển Đông là biển chung của các nước xung quanh, tác giả ngang nhiên coi biển Đông là của riêng Trung Quốc khi viết: “Tuy Nam Hải (biển Đông) từ xưa đến nay đã là lãnh thổ của Trung Quốc, nhưng các nước Việt Nam, Philippines, Malaysia, Indonesia và Brunei đều tuyên bố có chủ quyền với một bộ phận Nam Hải.
Trừ Indonesia, 4 quốc gia còn lại đều cưỡng chiếm một bộ phận đảo bãi thuộc Nam Hải của ta và vùng biển quanh đó.
Lãnh đạo các nước Việt Nam, Philippines, Malaysia đều đã đến các đảo bãi của ta bị họ cưỡng chiếm, kéo quốc kỳ để thể hiện chủ quyền.
Philippines và Việt Nam còn thông qua luật trong nước, đưa các đảo bãi của Trung Quốc và vùng biển phụ cận vào phạm vi quản hạt chủ quyền của họ, lại còn thành lập cơ cấu chính quyền liên quan.
Việt Nam còn ra sức khai thác dầu mỏ ở Nam Hải, từ nước vốn phải nhập khẩu nay trở thành nước xuất khẩu dầu.
Việt Nam dùng những khoản lợi nhuận nhờ khai thác dầu mỏ, không ngừng mua các vũ khí trang bị công nghệ cao để đối kháng Trung Quốc”.
Chiến sĩ Trường Sa đi tuần tra trên xuồng cao tốc "Cá mập biển Đông" sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc
Chiến sĩ Trường Sa đi tuần tra trên xuồng cao tốc "Cá mập biển Đông" sẵn sàng chiến đấu bảo vệ tổ quốc
Bài viết này còn cáo buộc Việt Nam mua sắm vũ khí để phòng vệ là nhằm “đối kháng Trung Quốc, đe dọa Trung Quốc”.
Thật nực cười khi họ viết: “Phó Tổng tham mưu trưởng quân đội Việt Nam Nguyễn Hà Nhất thậm chí đã tuyên bố quân đội Việt Nam có thể đánh thẳng đến Bắc Kinh”.
Đến đây, thì kẻ bịa đặt đã lộ mặt vì trong lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam từ trước đến nay không hề có vị tướng nào có tên là Nguyễn Hà Nhất cả, chứ chưa nói đến đó lại là người giữ chức Phó Tổng tham mưu trưởng.
Quen thói dọa dẫm, bài báo viết, nhiệm vụ trung tâm của Hạm đội Nam Hải và hai lữ đoàn lính thuỷ đánh bộ là “thu hồi các đảo bị cưỡng chiếm, bảo vệ quyền lợi biển”, “chuẩn bị sẵn sàng sử dụng biện pháp quân sự để thu hồi lãnh thổ và các quyền lợi biển”, “chỉ cần trung ương ra lệnh là hai lữ đoàn lính thuỷ đánh bộ sẽ xung trận ngay”…
Lan Hương (TPO)

Saturday, July 28, 2012

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm



PNO - Năm 1864, anh hùng Trương Định bị tên chó săn Huỳnh Tấn phục kích giết chết. Cuộc kháng chiến hào hùng và oanh liệt nhất ở đất Nam kỳ đã bị dập tắt. Để giới thiệu “chiến lợi phẩm văn hóa” với các nước phương Tây, Grabriel Aubaret đã dịch tác phẩm Lục Vân Tiên ra tiếng Pháp và viết lời giới thiệu, có đoạn: “Truyện thơ Lục Vân Tiên phổ biến trong dân gian đến mức là ở Nam Kỳ không một người đánh cá hay người lái đò nào không hát một vài câu thơ ấy khi họ chèo thuyền”.



Qua lời giới thiệu này, có thể thấy tác phẩm Lục Vân Tiên lúc ấy nổi tiếng và ảnh hưởng sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân Nam kỳ và người viết ra tác phẩm ấy, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã được nhân dân yêu kính như thế nào.

Đến nay đã có nhiều chương trình tưởng niệm nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. Theo sự hiểu biết của chúng tôi, trước tiên có lẽ là chương trình do Hội Khuyến học Nam kỳ tổ chức vào ngày chủ nhật 27.6.1943 với nhiều hoạt động phong phú. Chẳng hạn, ngoài phần nghi lễ còn có biểu diễn tuồng Nguyệt Nga cống Hồ tại Nhà hát lớn Sài Gòn do nhà văn Hồ Biểu Chánh soạn, nghệ sĩ Nam Phỉ thủ vai chính…

Nhờ có tập Kỷ yếu lễ kỷ niệm Nguyễn Đình Chiểu in năm 1971 tại miền Nam, chúng ta được biết, chương trình kỷ niệm lần này quy mô lớn hơn nhiều - “nhằm làm sống lại hình ảnh hào hùng của một văn tài lỗi lạc, một nhà đại đức đáng kính, một bậc chí sĩ đầy khí phách” kéo dài từ ngày 11.7.1971 đến ngày 19.7.1971.

Mở đầu là cuộc viếng mộ cụ Nguyễn Đình Chiểu tại ba Tri (Bến Tre) - trong đoàn có nhà văn Sơn Nam, nhà thơ Mộng Tuyết, Kiên Giang, nghệ sĩ Năm Châu v.v…; ngày 16.7.1971, GS Nguyễn Duy Cần thuyết trình Con người toàn diện Nguyễn Đình Chiểu tại Đại học Văn khoa Sài Gòn; tại Trường Quốc gia âm nhạc và kịch nghệ Sài Gòn diễn tuồng hát bội Lục vân Tiên do nhà nghiên cứu Đỗ Văn Rỡ soạn v.v…

Được biết chương trình này được thực hiện ở miền Nam là nhằm kỷ niệm 150 năm ngày sinh của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, tính theo tuổi ta.

Còn tại miền Bắc lại tổ chức vào tháng 6.1972. Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nêu rõ: “Thông qua kỷ niệm lần này, cần động viên học tập và phát huy tinh thần yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, củng cố lòng tin sắt đá vào tiền đồ của Tổ quốc, nâng cao ý chí chiến đấu, bảo vệ và tăng cường miền Bắc xã hội chủ nghĩa, ra sức chi viện tiền tuyến lớn đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”.

Dịp này Viện Văn học có xuất bản tập sách Nguyễn Đình Chiểu - tấm gương yêu nước và lao động nghệ thuật, dày 670 trang.

Nhân dịp cả nước đang hướng đến Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, Người yêu sách giới thiệu cùng bạn đọc hai ấn phẩm độc đáo và có giá trị học thuật về nhân vật lừng lẫy mà GS Trần Văn Giàu đã nhận định:

“Cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu là một cuộc đời điển hình (sĩ phu yêu nước) trong một hoàn cảnh điển hình (đất nước bị xâm lăng). Con người Nguyễn Đình Chiểu không phải sống tùy thời theo lục bình trôi theo dòng nước khi lớn khi ròng, mà từ đầu chí cuối đứng sừng sững như cây dừa, rễ ăn sâu, thân đứng thẳng, đương đầu bất khuất với thời cuộc mỗi lúc mỗi thêm bi đát, giữ được đến cuối cùng cái chính khí bản nhiên, cái ý chí quang phục, cái nhân cách Việt Nam. Vừa bằng cuộc đời, vừa bằng văn thơ, Nguyễn Đình Chiểu để lại cho chúng ta một đạo làm người nhất quán yêu nước thương dân, trọng nghĩa khinh tài, trong sạch bất khuất, được đồng bào quý mến, còn kẻ thù thì kính nể”.

Ở nhân cách nhà thơ Đồ Chiểu, bao giờ chúng ta vẫn nhớ đến lời tâm niệm mà ông đã sống trọn vẹn với tuyên ngôn:

Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm,

Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà.

K.B

Trung Quốc dùng thủ đoạn gì để xâm chiếm Hoàng Sa của Việt Nam ?

[
Trung Quốc chia rẽ VN để VN suy yếu sức mạnh dân tộc. Và chiếm Hoàng Sa, thời kỳ 1950s, thời kỳ chiến tranh Nam Bắc VN. 

Hôm nay, họ chiếm VN bằng nhiều cách kinh nghiệm hơn.
Tận dụng ưu thế của Đảng CSVN do họ đẻ ra.
Tiếp tục dùng thế mạnh hiếp yếu.

Toàn dân Việt nam phải chủ động:
- Đoàn kết sức mạnh dân tộc. Không thể là "Đại Đoàn Kết" theo mô hình của Đảng CSVN để phục vụ riêng cho quyền lợi của Đảng CSVN. Mà phải Đoàn Kết Sức Mạnh Dân Tộc thật sự.
- Đấu tranh chủ lực, chủ động tình hình thay vì thụ động. Nghĩa là làm bạn, liên minh với tất cả các nước trên thế giới về mọi mặt, Nghĩa là phải quyết tâm Hội Nhập, Phát Triển, Sinh Tồn Dân Tộc cho đến cùng. Không thể thụ động, chờ thời do TQ làm chủ lực phân tán lực lượng Dân tộc Việt nam.
]


Cuốn “Kỷ yếu Hoàng Sa” do UBND huyện Hoàng Sa (Đà Nẵng) và NXB Thông tin – Truyền thông xuất bản tháng 1/2012 tiếp tục chỉ rõ các thủ đoạn của Trung Quốc xâm chiếm nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam sau khi đã chiếm nhóm đảo phía Đông vào năm 1956.
ĐỔI TRẮNG THAY ĐEN, Ỷ MẠNH HIẾP YẾU
Trong bài “Quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa” đăng trong “Kỷ yếu Hoàng Sa”, “TS Trần Công Trục (nguyên Trưởng Ban Biên giới của Chính phủ) nêu rõ: “Quân Pháp rút khỏi Việt Nam sau khi thua trận Điện Biên Phủ và trong thời kỳ Việt Nam chia đôi theo quy định của Hiệp định Genève khiến Trung Quốc, Đài Loan… tranh chấp chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quyền quản lý, bảo vệ của Chính quyền Việt Nam Cộng hoà (VNCH, giai đoạn 1956 – 1975)”.
Tàu cá có trang bị vũ trang của Trung Quốc khiêu khích chiến hạm của Hải quân VNCH tại đảo Cam Tuyền thuộc quần đảo Hoàng Sa ngày 15/1/1974 - Ảnh: HC (chụp lại từ cuốn "Kỷ yếu Hoàng Sa"
Tàu cá có trang bị vũ trang của Trung Quốc khiêu khích chiến hạm của Hải quân VNCH tại đảo Cam Tuyền thuộc quần đảo Hoàng Sa ngày 15/1/1974 - Ảnh: HC (chụp lại từ cuốn "Kỷ yếu Hoàng Sa"
Âm mưu cho lính đóng giả ngư dân để chiếm đảo bị đập tan
Theo đó, việc thua trận ở Điện Biên Phủ và ký Hiệp định Genève 20/7/1954 buộc quân Pháp phải rút lui khỏi Việt Nam tháng 4/1956 và để khoảng trống bố phòng ở Biển Đông khiến các nước trong khu vực, trong đó có CHND Trung Hoa, Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan) cho là cơ hội tốt để đưa lực lượng quân sự ra chiếm đóng trái phép một số đảo ở Hoàng Sa cũng như Trường Sa của Việt Nam. Tuy nhiên, VNCH đã tích cực tổ chức các hoạt động nhằm quản lý và bảo vệ Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam:
Ngày 22/8/1956, song song với việc đưa lực lượng hải quân ra quần đảo Trường Sa để chiếm giữ, bảo vệ quần đảo này trước những hoạt động xâm lấn của các lực lượng nói trên, VNCH đã tổ chức một số hoạt động tại quần đảo Hoàng Sa như: Tổ chức đoàn nghiên cứu thuỷ văn do Saurin dẫn đầu; cho phép kỹ nghệ gia Lê Văn Cang tiến hành khai thác phốt phát ở Hoàng Sa. Từ năm 1957, Bộ Tư lệnh Hải quân VNCH đã cử một đại đội thuỷ quân lục chiến ra quản lý, bảo vệ quần đảo Hoàng Sa thay thế cho quân của đại đội 42 thuộc tiểu đoàn 142.
Và cũng với thủ đoạn lén lút như 3 năm trước đó, “ngày 21/2/1959, CHND Trung Hoa cho một số lính đóng giả ngư dân bí mật đổ bộ lên các đảo Hữu Nhật, Duy Mộng, Quang Hoà nhằm đánh chiếm nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa. Tuy nhiên lực lượng quân đội VNCH đã phá tan được âm mưu này. 82 “ngư dân” và 5 thuyền đánh cá vũ trang của Trung Quốc đã bị bắt giữ và bị áp giải về giam tại Đà Nẵng, sau đó trả cho Trung Quốc” – TS Trần Công Trục viết.
Tuy nhiên Trung Quốc vẫn không từ bỏ âm mưu chiếm nốt phần còn lại của quần đảo Hoàng Sa. Nhân chứng Trần Hoà (sinh năm 1954, hiện ở tổ 5, khối phố Long Xuyên 1, thị trấn Nam Phước, huyện Duy Xuyên, Quảng Nam) từng được Bộ chỉ huy Tiểu khu Quảng Nam (quân lực VNCH) cử ra ra Hoàng Sa chăm sóc sức khoẻ, khám và điều trị bệnh cho sĩ quan, binh lính trung đội Hoàng Sa và các nhân viên khí tượng trên đảo vào tháng 10/1973 kể lại trong cuốn “Kỷ yếu Hoàng Sa”:
“Từ khoảng tháng 10/1973, tàu cá Trung Quốc vào đánh bắt gần quần đảo Hoàng Sa ngày càng nhiều. Khi gặp tàu tuần tra của chính quyền Sài Gòn thì những tàu này bỏ chạy ra hải phận quốc tế, khi tàu tuần tra đi rồi họ lại buông neo thả lưới quanh đảo. “Anh em trên đảo chỉ lo nhiệm vụ giữ đảo, còn đẩy đuổi ngư dân nước ngoài xâm phạm lãnh hải thì không có phương tiện nên đành chịu”.
Báo chí Sài Gòn năm 1974 đưa tin Trung Quốc xâm chiếm trái phép Hoàng Sa - Ảnh: chụp lại từ cuốn "Kỷ yếu Hoàng Sa"
Báo chí Sài Gòn năm 1974 đưa tin Trung Quốc xâm chiếm trái phép Hoàng Sa - Ảnh: chụp lại từ cuốn "Kỷ yếu Hoàng Sa"
Trận chiến xâm lược tháng 1/1974
Ông Trần Hoà cùng những người trên đảo Hoàng Sa hoàn toàn không ngờ đó là kế sách của phía Trung Quốc. Để rồi đến ngày 19/1/1974, hàng đoàn tàu đánh cá được trang bị vũ trang đã hợp sức cùng tàu chiến của hải quân Trung Quốc có hành động khiêu khích, tiến đến gần Hoàng Sa rồi bất ngờ đổ quân đánh chiếm trái phép quần đảo của Việt Nam.
TS Trần Công Trục thuật lại trong bài “Quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa”: Ngày 15/1/1974, sau khi tuyên bố lên án cái gọi là “chính quyền VNCH “xâm lấn đất đai của Trung Quốc”, “tất cả các quần đảo Nam Sa, Tây Sa, Đông Sa và Trung Sa là lãnh thổ của Trung Quốc”…, CHND Trung Hoa đã đưa quân đổ bộ và cắm cờ Trung Quốc lên các đảo Hữu Nhật, Quang Ảnh, Quang Hoà và Duy Mộng thuộc nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa.
Ngày 16/1/1974, Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt của Hải quân VNCH đưa phái đoàn quân lực ra Hoàng Sa và phát hiện 2 chiến hạm số 402 và 407 của Hải quân Trung Quốc đang ở gần đảo Hữu Nhật, xác nhận quân Trung Quốc đã chiếm đóng, cắm cờ trên các đảo Quang Hoà, Duy Mộng, Quang Ảnh… Lập tức, Ngoại trưởng Vương Văn Bắc họp báo tố cáo Bắc Kinh đã huy động tàu chiến vi phạm vùng biển quần đảo Hoàng Sa và đưa binh lính đổ bộ xâm chiếm các đảo Hữu Nhật, Quang Ảnh, Quang Hoà, Duy Mộng thuộc nhóm đảo phía Tây quần đảo Hoàng Sa.
“Từ ngày 17/1 đến ngày 20/1/1974, trận hải chiến giữa lực lượng Hải quân VNCH và lực lượng Hải, Lục, Không quân, Quân giải phóng Nhân dân Trung Hoa xảy ra trong tình thế khó khăn cho quân lực VNCH. Mặc dù đã chiến đấu quả cảm, nhiều binh sĩ đã anh dũng hy sinh, Quân lực VNCH đã không thể giữ được các đảo thuộc nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa” – TS Trần Công Trục viết.
Điều này cũng được nhiều nhân chứng từng sống, chiến đấu ở Hoàng Sa trong giai đoạn đó chứng thực rõ thêm. Nhân chứng Lê Lan (sinh năm 1952, hiện ở tổ 13, phường Sơn Phong, khối phố 3, Hội An, Quảng Nam) là y tá quân y thuộc Tiểu khu Quảng Nam, năm 1973 cũng được cử ra Hoàng Sa 3 tháng để phụ trách khám sức khoẻ, cung cấp thuốc cho binh sĩ đồn trú trên đảo. Khi chỉ còn khoảng 1 tuần nữa ông trở về đất liền thì quần đảo bất ngờ bị phía Trung Quốc sử dụng vũ lực đánh chiếm trái phép.
“Lúc ấy có cả đoàn giám sát thiết lập phi trường trên đảo bị kẹt lại, trong đó có 1 người Mỹ. Mặc dù chúng tôi đã phân chia nhiệm vụ chiến đấu giữ lấy đảo vì đảo thuộc chủ quyền của chúng ta nhưng bọn chúng đông quá cùng tàu chiến nhiều nên cuối cùng chúng cũng chiếm được Hoàng Sa.
Tôi cùng 32 người khác bị đưa về tạm giam ở đảo Hải Nam 3 tháng, khi đó có thêm 21 người bị hải quân Trung Quốc bắt ở đảo khác. Sau đó chúng đưa tôi về trại thu dung tù binh ở Quảng Châu (Trung Quốc) khoảng 1 tháng rồi giao cho Tổ chức Hồng Thập tự Quốc tế của Anh trao trả cho chính quyền Sài Gòn” – ông Lê Lan kể lại trong cuốn “Kỷ yếu Hoàng Sa”.
Ông Trần Văn Hảo (sinh năm 1938, hiện ở tổ 14 phường Thạc Gián, quận Thanh Khê, Đà Nẵng), từng là trung sĩ của trung đội Hoàng Sa cũng là một nhân chứng trong trận hải chiến đó. Ông kể, khi xảy ra vụ tấn công trái phép ngày 19/1/1974, trung đội của ông đã đối đầu quyết liệt với lực lượng hải quân và tàu đánh cá có vũ trang của Trung Quốc. Nhưng phía Trung Quốc cậy tàu to súng lớn trong khi lực lượng trên đảo quá mỏng nên ông Hảo cùng một số anh em trong đội quân bảo vệ Hoàng Sa đã bị bắt.
Cùng cảnh ngộ ấy là ông Nguyễn Văn Cúc (sinh năm 1952, hiện ở tổ 11, phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà, Đà Nẵng). Năm 1973, ông liên tiếp ba lần được cử ra khảo sát, sửa chữa và xây dựng ở Hoàng Sa. Lần thứ 3 ông ra đảo vào tháng 12/1973 để lấy mẫu đất, khảo sát xây dựng sân bay. Khi ông đang trên đường trở về đất liền thì bị tàu chiến Trung Quốc bắt giữ trong cuộc xâm chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam…
Ông kể, đang lênh đênh trên biển thì tàu của ông gặp tàu chiến Trung Quốc. Sau một ngày giằng co, họ áp sát buộc tàu của ông quay lại đảo. Mọi người trên tàu bàng hoàng khi trực tiếp chứng kiến Hoàng Sa bị chiếm, đau đớn, xót xa khi thấy mảnh đất của Việt Nam rơi vào tay kẻ khác. Sau một ngày bị bắt giữ trên đảo, hải quân Trung Quốc chở ông về đảo Hải Nam; rồi đưa lên tàu lớn về giam ở Quảng Châu cả tháng trời trước khi trao trả cho Hồng Thập tự Anh tại Hồng Kông.
Trích Tuyên bố 3 điểm của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoa miền Nam Việt Nam ngày 26/4/1974 tại Hội nghị Hiệp thương La Cellesaint Clou - Ảnh: chụp lại từ cuốn "Kỷ yếu Hoàng Sa"
Trích Tuyên bố 3 điểm của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoa miền Nam Việt Nam ngày 26/4/1974 tại Hội nghị Hiệp thương La Cellesaint Clou - Ảnh: chụp lại từ cuốn "Kỷ yếu Hoàng Sa"
Việt Nam yêu cầu Hội đồng Bảo an LHQ can thiệp
Ngay khi xảy ra các trận hải chiến tháng 1/1974, Quan sát viên của VNCH tại Liên hiệp quốc (LHQ) đã chính thức yêu cầu Chủ tịch Hội đồng Bảo an LHQ xem xét hành động xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa. Ngày 19/1/1974, Bộ Ngoại giao VNCH ra Tuyên bố kêu gọi các dân tộc yêu chuộng công lý và hoà bình lên án hành động xâm lược thô bạo của Trung Quốc, buộc Trung Quốc chấm dứt ngay hành động nguy hiểm đó.
Cũng trong thời gian này, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam đã ra Tuyên bố nêu rõ lập trường của mình:
- Chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ là những vấn đề thiêng liêng đối với mỗi dân tộc.
- Vấn đề biên giới và lãnh thổ là vấn đề mà giữa các nước láng giềng thường có những tranh chấp do lịch sử để lại.
- Các nước liên quan cần xem xét vấn đề này trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, hữu nghị là láng giềng tốt và phải giải quyết bằng thương lượng.
Ngày 21/1/1974, Chính quyền VNCH đã gửi Công hàm cho các thành viên ký kết Định ước Paris đề nghị các thành viên lên án và đòi nhà cầm quyền Trung Quốc không được xâm phạm lãnh thổ Việt Nam theo đúng nội dung Điều 1 và Điều 4 của Định ước này.
Ngày 30/3/1974, tại kỳ họp lần thứ 30 của Hội đồng Kinh tế Liên hiệp quốc về Châu Á và Viễn Đông (ECAPE) tại Colombo, phái đoàn VNCH đã tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam.
Ngày 2/7/1974, tại kỳ họp thứ 2 Hội nghị lần thứ 3 của Liên hiệp quốc về Luật Biển (UNCLOS III) diễn ra tại Caracas (20/6 – 29/8/1974), đại biểu của VNCH đã lên tiếng tố cáo Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực và khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là lãnh thổ Việt Nam, chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo này là không tranh chấp và không thể thương lượng.
Sinh viên Việt kiều ở Pháp biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa - Việt Nam (1974) - Ảnh: chụp lại từ cuốn "Kỷ yếu Hoàng Sa"
Sinh viên Việt kiều ở Pháp biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa - Việt Nam (1974) - Ảnh: chụp lại từ cuốn "Kỷ yếu Hoàng Sa"
Trung Quốc nuốt lời cam kết
Theo tường thuật của TS Trần Công Trục, sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 24/9/1975, trong cuộc gặp đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà do Tổng Bí thư Lê Duẩn dẫn đầu, nhà lãnh đạo Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã tuyên bố sau này hai bên sẽ bàn bạc vấn đề chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa) và quần đảo Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Nam Sa).
Tuy nhiên như cả thế giới đều biết, từ đó đến nay Trung Quốc vẫn ngang nhiên nuốt lời cam kết của chính lãnh đạo của họ. Không những thế, Trung Quốc còn tiếp tục leo thang các hàng động vi phạm ngày càng trắng trợn chủ quyền của Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa cũng như quần đảo Trường Sa và trên khu vực biển Đông.
Ngày 2/7/1976, Nhà nước CHXHCN Việt Nam được thành lập và hoàn toàn có nghĩa vụ, quyền hạn tiếp tục quản lý và bảo vệ chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 12/5/1977, Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam ra Tuyên bố về các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam, trong đó đã khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam có các vùng biển và thềm lục địa riêng.
Tại phiên họp thứ 7 cuộc đàm phán về biên giới Việt – Trung (bắt đầu ngày 9/10/1977), Trưởng đoàn Việt Nam, ông Phan Hiền đã bác bỏ vu cáo của Trung Quốc đối với việc Hải quân Nhân dân Việt Nam đã tiếp quản các đảo thuộc quần đảo Trường Sa và tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ông Phan Hiền đề nghị với ông Hàn Niệm Long, Trưởng đoàn Trung Quốc, về việc đưa vấn đề hai quần đảo vào chương trình nghị sự nhưng phía Trung Quốc từ chối.
Ông Phạm Khôi (bên trái, nhân chứng từng sống và tham gia nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển - đảo Hoàng Sa giai đoạn 1969 - 1970) trao tặng Chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa Đặng Công Ngữ bức sơ phác về quần đảo Hoàng Sa do ông vẽ theo trí nhớ
Ông Phạm Khôi (bên trái, nhân chứng từng sống và tham gia nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển - đảo Hoàng Sa giai đoạn 1969 - 1970) trao tặng Chủ tịch UBND huyện đảo Hoàng Sa Đặng Công Ngữ bức sơ phác về quần đảo Hoàng Sa do ông vẽ theo trí nhớ
Việt Nam bác bỏ sự xuyên tạc của Trung Quốc
Ngày 15/3/1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Bị Vong Lục về vấn đề biên giới Việt – Trung. Điểm 9 của Bị Vong Lục đã tố cáo Trung Quốc đánh chiếm trái phép quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào tháng 1/1974.
Ngày 7/8/1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam ra Tuyên bố về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, bác bỏ sự xuyên tạc của Trung Quốc trong việc công bố một số tài liệu của Việt Nam liên quan đến các quần đảo này, khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo, nhắc lại lập trường của Việt Nam về việc giải quyết sự tranh chấp giữa hai nước bằng thương lượng hoà bình.
Ngày 28/9/1979, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Sách trắng: “Chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”, trong đó đã giới thiệu 19 tài liệu liên quan đến chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo này.
Ngày 25/11/2011, trước các đại biểu Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá 13, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ra lời tuyên bố mang tính lịch sử về chủ quyền thiêng liêng của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa hiện đang nằm dưới sự chiếm đóng bất hợp pháp của lực lượng vũ trang Trung Quốc:
“Việt Nam có đủ căn cứ pháp lý và lịch sử khẳng định rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Chúng ta làm chủ thật sự, ít nhất là từ thế kỷ XVII, khi hai quần đảo này chưa thuộc bất kỳ quốc gia nào. Chúng ta đã làm chủ trên thực tế và liên tục, hoà bình”. “Lập trường nhất quán của chúng ta là quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam. Chúng ta có đủ căn cứ lịch sử và pháp lý để khẳng định điều này. Nhưng chúng ta chủ trương đàm phán giải quyết đòi hỏi chủ quyền bằng biện pháp hoà bình. Chủ trương này phù hợp với Hiến chương Liên hiệp quốc, phù hợp với Công ước Luật Biển năm 1982″.
Theo (infonet)

Nga có thể thiết lập cơ sở bảo dưỡng tàu ở Cam Ranh


Việt Nam sẽ cho phép Nga thiết lập cơ sở bảo dưỡng tàu biển tại cảng Cam Ranh, tuyên bố này được đưa ra trong chuyến thăm của Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang tới Nga.
Cảng sẽ không phải là căn cứ quân sự của Nga, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trả lời Đài tiếng nói Liên bang Nga (VOR) trước cuộc gặp với Tổng thống Nga Valadimir Putin. Tuy nhiên, chủ tịch nước cho biết cảng Cam Ranh sẽ được sử dụng để giúp tăng cường hợp tác mọi mặt giữa hai nước. 
Theo RIA Novosti dẫn lời chủ tịch nước cho biết, Hà Nội đang có kế hoạch nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ bảo trì cho bất cứ tàu nước ngoài cập cảng Cam Ranh, vốn là một căn cứ hải quân cũ của Liên Xô.
Nga hiện chỉ có một căn cứ quân sự nước ngoài duy nhất bên ngoài lãnh thổ Liên bang Xô Viết cũ ở Tartus, Syria. Nhưng các quan chức cho biết căn cứ chỉ không hơn một trạm tiếp nhiên liệu cho tàu chiến Nga. .
Trọng Giáp(VNE)

Thursday, July 26, 2012

Vinalines: thêm 7 người bị bắt



Nguyên kế toán trưởng Tổng công ty Hàng hải Việt Nam ( Vinalines) và sáu bị can khác bị khởi tố và bắt giam vào ngày hôm qua.
Source photo:TL/kinhtesaigon
Ụ nổi N083M, một trong những dự án mua sắm dẫn đến những sai phạm của lãnh đạo Vinalines.
Mạng Lao Động loan tin cho biết cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an Việt Nam đã tống đạt quyết định khởi tố bị can đối với bà Nguyễn thị Bích Loan, nguyên kế toán trưởng Vinalines và sáu đối tượng khác là Lê Văn Dương- đăng kiểm viên, Trần Hải Sơn- nguyên giám đốc Cty TNHH sửa chữa tàu biển Vinalines, Mai Văn Khang- cán bộ Ban quản lý Dự án Vinalines và ba cán bộ hải quan Tân Phong, tỉnh Khánh Hòa.
Tội danh để khởi tố cả 7 người là ‘cố ý làm trái’ trong quá trình đầu tư mua ụ nổi N083M.
Thông tin nói cơ quan điều tra xác định là tính đến đầu tháng tư năm nay, các bị cán cố ý làm trái gây thiệt hại trên 100 tỷ đồng.
Tính đến nay, cơ quan điều tra đã khởi tố 13 bị cán liên quan đến vụ án Vinalines.
Hồi tháng rồi, tổng thanh tra chính phủ Việt Nam cho biết tổng số nợ của Vinalines là  hơn 2 tỷ đô la. Vinalines từng chi khoảng 1 tỷ đô la để mua 70 chiếc tàu cũ về và chi tiếp nhiều khoản lớn để bảo trì, sửa chữa.
Vụ Vinalines xảy ra sau phiên xử những viên chức điều hành Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam – Vinashin, gần như phá sản hồi năm 2010 với một núi nợ hơn bốn tỷ đô la.
Hiện Interpol Quốc tế đang truy nã cựu chủ tịch Vinalines là ông Dương Chí Dũng, sau khi ông này bỏ trốn hồi tháng 5.
Các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước được chính quyền Việt Nam cho là xương sống của nền kinh tế. Khối này được phép kiểm soát đến hai phần ba nguồn vốn và tài sản của nền kinh tế và có nhiều mối quan hệ cùng các quan chức chính phủ và Đảng.
Hồi trong tháng Hà Nội công bố kế hoạch tái cấu trúc khu vực doanh nghiệp Nhà Nước cho đến khoảng năm 2015. Tuy nhiên giới chuyên gia vẫn nghi ngờ về biện pháp thực hiện kế hoạch đó.

Vụ hành hung 2 nhà báo VOV ở Hưng Yên: Tưởng nhà báo là... người dân (!?)


T.Dũng (NLĐ) - Chiều 26-7, đại tá Ngô Văn Phương, Trưởng Công an huyện Văn Giang - Hưng Yên, đã xác nhận ngoài 2 công an, 3 người còn lại tham gia đánh 2 nhà báo của Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV) Nguyễn Ngọc Năm và Hán Phi Long tại xã Xuân Quan, huyện Văn Giang trong khi 2 nhà báo này đang tác nghiệp về vụ cưỡng chế thu hồi đất dự án khu đô thị thương mại và du lịch Văn Giang (Ecopark) vào ngày 24-4 là người của Công ty TNHH V & T. 

2 nhà báo VOV bị đánh trong buổi cưỡng chế ở Văn Giang. Ảnh cắt từ clip 

Theo ông Phương, 3 người này là Nguyễn Xuân Biên, Lê Văn Băng và Cao Như Mác, có nhiệm vụ bảo vệ máy xúc, máy ủi của doanh nghiệp tại hiện trường vụ cưỡng chế thu hồi đất. 

Đại tá Ngô Văn Phương cho rằng việc 3 người này tham gia vụ đánh 2 nhà báo VOV là do họ bức xúc, nóng nảy bởi nhiều chuyện và do nhầm tưởng nhà báo là người dân. Ông Phương cho biết Công an huyện Văn Giang đã xử phạt hành chính 3 người này do có hành vi gây rối trật tự công cộng, với mức phạt 1,5 triệu đồng/người.